Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch tả. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch tả. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012
Phòng bệnh tả: 9 điều cần biết
Trên thế giới đã từng có bệnh dịch tả do chủng El tor xảy ra ở các thời điểm 1961 – 1971 và 1969 – 1974. Từ tháng 1/1991 đến tháng 9/1994 đã có tổng số 1.041.422 người mắc bệnh, trong đó có 9.642 ca tử vong chiếm tỉ lệ 0,9%. Vì thế tích cực phòng bệnh tả là nhiệm vụ của mọi người vì sức khỏe cộng đồng.
Điều trị cho bệnh nhân tiêu chảy cấp tại Viện Các bệnh truyền nhiễm và nhiệt đới QG. Ảnh: TM
1/ Bệnh tả gây ra tình trạng tiêu chảy nguy hiểm cho cá nhân và cho cộng đồng. Trong đó có đến 75% nguời mang mầm bệnh tả mà không có biểu hiện gì, vì mang mầm bệnh mà không hay nhưng vẫn làm lây lan bệnh cho cộng đồng.
2/ Tác nhân gây bệnh là phẩy khuẩn tả (Vibrio cholera) thuộc nhóm vi khuẩn Gram âm có hình giống chiếc gậy uốn cong giống dấu phẩy. Trong vi trùng học, Gram là phương pháp nhuộm màu theo kỹ thuật Gram được nhà bác học Đan Mạch tên Hans Christian Gram (1853-1938) phát minh năm 1884, để phân biệt nhóm vi khuẩn ăn hoặc không ăn màu nhuộm gọi là Gram dương, Gram âm.
3/ Bệnh dễ lây lan vì người mang vi khuẩn tiềm ẩn chờ cơ hội phóng thích vi khuẩn gây bệnh ra môi trường sống làm lây lan bệnh. Độc tố của vi khuẩn gây tiêu chảy ồ ạt và làm rối loạn điện giải. Khi vào người, khuẩn tả bám vào ruột tiết nội độc tố A, B hoạt hóa trong niêm mạc ruột làm các tế bào trong lòng ruột trở thành những máy bơm tiết nước, tiết các ion điện giải như: Na+, K+, Cl-, HCO3- vào lòng ruột, dẫn đến hiện tượng tiêu chảy mất nước, mất chất điện giải.
4/ Bệnh dễ dàng lan truyền vì vi khuẩn tiết ra enzyme tên chitinase giúp vi khuẩn đi xuyên qua vỏ cứng để xâm nhập loài giáp xác như tôm, cua và khi xâm nhập người thì tiết ra enzyme mucinase để dễ xâm nhập vào đường tiêu hóa. Vi khuẩn còn tiết ra độc tố ZOT giúp vi khuẩn gắn kết vào thành ruột rồi sản xuất độc tố tác động trong đường tiêu hóa.
5/ Vi khuẩn dễ lây lan và tồn tại trong nhiều môi trường, nhất là các thực phẩm sống như ăn tái các loại sò, ốc, tôm cua, rau tươi sống. Trong một nghiên cứu về sinh học phẩy khuẩn tả, người ta nhận thấy vi khuẩn từ người bệnh phát tiết ra ngoài dễ lây lan mầm bệnh gấp 700 lần vi khuẩn ấy nhưng được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.
6/ Bệnh diễn biến nhanh chóng từ tiêu chảy nhẹ đến nặng chiếm tỉ lệ 1/20 người bị bệnh.
- Bệnh lây nhiễm tất cả mọi người nhưng nguy hiểm nhất là ở trẻ em vì gây ra tình trạng mất nước trầm trọng, suy kiệt. Bệnh nhân tiêu chảy toàn nước, trụy tim mạch, suy thận dẫn đến sốc do mất nước, do rối loạn điện giải rồi tử vong.
- Bệnh dễ trở nên trầm trọng với trẻ em bị suy dinh dưỡng, do thiếu acid trong dịch vị làm tình trạng nhiễm khuẩn càng dễ dàng hơn.
- Người khỏe mạnh bị nhiễm khuẩn tả có thể bị hạ huyết áp trong vài giờ dẫn đến trụy tim mạch, sốc mất nước từ 4 - 12 giờ và có thể tử vong khoảng 18 giờ đến vài ngày. Bệnh nguy hiểm vì tử vong cao và có thể gây thành dịch tả.
7/ Phòng bệnh tả: Không ăn thức ăn tươi sống nhất là các loại rau sống, uống nước chưa đun sôi. Một số rau sống được tưới bằng nước nhiễm khuẩn hoặc bón phân từ phân người nên là nguồn lây nhiễm nguy hiểm đáng kể cho cộng đồng. Phát hiện gần đây ở những bệnh nhân mắc bệnh tả cho thấy 70% bệnh nhân đều có ăn rau sống.
8/ Ăn chín, uống chín, hạn chế ăn rau sống trong vùng có dịch. Tránh ăn uống ở hàng quán vỉa hè tại nơi nghi ngờ có dịch. Không được phóng uế bừa bãi vì người mắc bệnh là nguồn phóng thích mầm bệnh. Tăng cường vệ sinh cá nhân và cộng đồng như chú trọng rửa tay sạch bằng xà phòng diệt khuẩn khi ăn uống và chế biến thực phẩm. Chú trọng vệ sinh trong môi trường tập thể, bán trú...
9/ Cho uống bù nước bằng dung dịch oresol là biện pháp ban đầu quan trọng và nhanh chóng chuyển bệnh nhân đến cơ quan y tế.
DS. Trương Ngọc Thùy Trang (theo báo SK&ĐS)
Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012
Ứng dụng GIS trong kiểm soát và dự báo dịch bệnh tả
Bệnh tả là một loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với con người, hiện vẫn lưu hành ở nhiều địa phương, nó không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, mà còn tác động xấu đến phát triển kinh tế- xã hội. Trong lịch sử các vụ dịch tả từng được coi như một thảm họa do tỷ lệ tử vong cao, lây lan nhanh, phạm vi ảnh hưởng rộng và khó kiểm soát.
Từ năm 2007 đến nay, dịch bệnh tả lại tiếp tục bùng phát tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, với tổng số hơn 4130 ca mắc bệnh tả được ghi nhận trong 3 năm từ năm 2007- 2009. Trong đó Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tần xuất xuất hiện các đợt dịch cao (3/4 đợt), số ca mắc tả cũng cao so với các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, với 237 ca mắc bệnh tả được ghi nhận trong 3 năm.
Năm 2010 Bắc Ninh tiếp tục được ghi nhận một số ca mắc bệnh tả, và dự báo dịch tả sẽ tiếp tục xuất hiện trên địa bàn tỉnh trong những năm tới. Để chủ động phòng tránh dịch bệnh tả tái phát gây ảnh hưởng tới sức khỏe nhân dân, cùng với các biện pháp chuyên môn như: Nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học, phương pháp phòng và trị bệnh, nắm rõ các yếu tố nguy cơ gây nhiễm tả để chủ động ngăn chặn dịch bệnh từ vòng ngoài… Thì việc triển khai ứng dụng Hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong kiểm soát và dự báo dịch bệnh tả trên địa bàn tỉnh được xem như một giải pháp mang tính khả thi cao, để giúp ngành Y tế và chính quyền các cấp có những can thiệp phù hợp nhất nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống dịch tả.
GIS là một công cụ máy tính để lập bản đồ và phân tích các sự vật, hiện tượng thực trên trái đất. Công nghệ GIS kết hợp các thao tác cơ sở dữ liệu thông thường (như cấu trúc hỏi đáp) và các phép phân tích thống kê, phân tích địa lý. Trong đó phép phân tích địa lý và hình ảnh được cung cấp duy nhất từ các bản đồ. Những khả năng này là đặc điểm nổi bật để phân biệt GIS với các hệ thống thông tin khác và khiến cho GIS có phạm vi ứng dụng rộng trong nhiều lĩnh vực khác nhau (phân tích các sự kiện, dự đoán tác động và hoạch định chiến lược).
Trong y tế GIS được sử dụng như là một công cụ nghiên cứu dịch bệnh để phân tích nguyên nhân bùng phát và lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng. Xác định vị trí của ca bệnh và xây dựng bản đồ dịch tễ học trong các vụ dịch tả có vai trò quan trọng trong nghiên cứu dịch tễ học. Phân tích không gian cũng có ý nghĩa trong phân tích các vụ dịch và giám sát bệnh tả. Phương pháp nghiên cứu này sẽ sử dụng máy định vị toàn cầu (GPS) để xác định tọa độ các ca bệnh tả một cách chính xác đến từng hộ gia đình. Kết hợp với phần mềm phân tích không gian Arc GIS 9.3, SaTScan 7.0.3 để vẽ bản đồ dịch tễ và mô tả sự phân bố dịch bệnh tả trên địa bàn, phân tích sự thay đổi của bệnh tả theo thời gian tại các cộng đồng dân cư.
Việc sử dụng phương pháp phân tích dịch tễ học không gian thông qua ứng dụng hệ thống thông tin địa lý và thiết bị định vị toàn cầu để mô tả sự phân bố tọa độ, qua đó phân tích mối quan hệ giữa các ca bệnh, chùm ca bệnh chính xác, khoa học nhất. Từ đó giúp kiểm soát tình hình dịch bệnh tả một cách triệt để nhất.
Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) trong kiểm soát và dự báo dịch bệnh tả sẽ đem lại một hướng đi mới, thiết thực để xác định tính chính xác sự phân bố của dịch bệnh cũng như các yếu tố có thể liên quan trong bối cảnh vụ dịch. Nhờ vậy mà ngành chức năng phân tích vụ dịch một cách sâu sắc, triệt để hơn, để triển khai công tác phòng chống dịch tả trên địa bàn tỉnh một cách hiệu quả hơn.
Thái Uyên
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)














