Quản lý dịch bệnh

Nghiên cứu và thành lập cơ sở dữ liệu các dịch bệnh phổ biến trong xã hội để xây dựng bộ công cụ hỗ trợ quản lý và ứng phó trước tình hình diễn biến dịch bệnh phức tạp.

Tìm hiểu tác nhân gây bệnh

Tìm hiểu , thống kê các tác nhân chính gây nên một số bệnh dịch phổ biến, hỗ trợ công tác phòng chống và xóa bỏ dịch bệnh.

Nghiên cứu cơ chế phát sinh và lây truyền

Nghiên cứu cơ chế tương tác giữa con người, môi trường và các loại hình lây nhiễm để thống kê và khuyến cáo các biện pháp phòng chống.

Phân tích không gian

Ứng dụng công nghệ GIS trong phân tích, đánh giá mức độ lây lan và dự báo diễn biến dịch bệnh dựa trên việc kết hợp dữ liệu không gian và hệ kiến thức chuyên gia.

Xây dựng mô hình

Dựa trên cơ chế tương tác giữa dịch bệnh, vật lây truyền, môi trường sống, thời gian và các hoạt động của con người, xây dựng mô hình dự báo cho một số loại dịch bệnh phổ biến tại khu vực nghiên cứu.

Điều tra thực địa thu thập dữ liệu và kiểm chứng kết quả

Tổ chức điều tra thu thập tài liệu, xác định các yếu tố phát sinh và truyền bệnh tại thực địa, kiểm chứng mô hình ứng dụng công nghệ GIS và công nghệ định vị toàn cầu GPS.

Chia sẻ dữ liệu trên mạng Internet

Ứng dụng công nghệ điện toán mây, công nghệ WebGIS và quản lý thông tin CMS, xây dựng hệ thống CSDL trực tuyến hỗ trợ chia sẻ thông tin trên mạng toàn cầu Internet.

Hiển thị các bài đăng có nhãn Virus HIV. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Virus HIV. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 1 tháng 3, 2013


Bình Định: Phát hiện thêm 75 trường hợp nhiễm HIV mới

Đó là con số thống kê của Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS tỉnh Bình Định vừa được công bố trong báo cáo Tổng kết công tác y tế năm 2012 tại tỉnh này.

Theo đó, năm 2012, qua xét nghiệm 5.565 mẫu máu, phát hiện 75 người bị nhiễm HIV mới, tăng 31 trường hợp so với năm 2011; trung bình hàng năm tỉnh phát hiện khoảng 50 người bị mắc bệnh HIV mới.
Như vậy, chiều hướng người nhiễm bệnh HIV/AIDS trên địa bàn tỉnh có chiều hướng gia tăng, nhất là nguy cơ người bị nhiễm HIV qua đường tình dục không an toàn ngày càng cao, chiếm chiếm 53,55% số trường hợp nhiễm HIV mới.

Theo thông kế, tính từ năm 1993 đến nay, toàn tỉnh có 850 trường hợp nhiễm HIV, trong đó số người bị mắc HIV nhiều nhất là TP Quy Nhơn: 255, tiếp đến là huyện Hoài Nhơn:105, huyện Phù Mỹ: 54, huyện Tuy Phước: 46, thị xã An Nhơn: 44, huyện Phù Cát: 39, huyện Tây Sơn: 31, huyện Hoài Ân: 25, huyện Vân Canh: 5, huyện Vĩnh Thạnh: 2 người; riêng huyện An Lão chưa phát hiện người nào bị nhiễm HIV; Số người ngoài tỉnh và không rõ địa chỉ là 244 người. Số chuyển sang AIDS là 41, tích lũy: 517; số ca tử vong, 05 tích lũy: 312.

Doãn Công



Thứ Tư, 26 tháng 12, 2012


Cẩn thận với “thần dược” chữa HIV

Theo một nghiên cứu mới đây được công bố trên tạp chí Nature Medicine, các nhà khoa học trường ĐH KwaZulu - Natal (Nam Phi) đã tìm ra cách tổng hợp một loại kháng thể có thể tấn công và giết chết HIV trong cơ thể, hiệu quả tới 88%.

Thông tin này đã khiến những người đang phải đối mặt với căn bệnh này và gia đình của họ khấp khởi hy vọng loại kháng thể này có thể được áp dụng tại Việt Nam?

Thông tin cần được kiểm chứng

Nghiên cứu này dựa trên sự quan sát các biến đổi của lớp vỏ HIV trên phụ nữ Nam Mỹ bị nhiễm HIV tình nguyện tham gia nghiên cứu. Dựa vào cách thức thay đổi lớp vỏ HIV vô cùng độc đáo mà chỉ có virus này mới có, các nhà khoa học đã tìm ra giải pháp ngăn chặn. Các nhà khoa học đã tình cờ tìm thấy cứ hai phụ nữ tham gia nghiên cứu thì có một người tổng hợp được loại kháng thể đặc biệt này. Kháng thể này thực chất là một kháng thể trung hòa virus tức là giảm độc lực của virus và có tác dụng với rất nhiều loại HIV khác nhau. Điều đáng nói, người ta thấy kháng thể được tổng hợp trên chính lớp vỏ HIV. Qua nghiên cứu các nhà khoa học thấy rằng điểm yếu của virus nằm trên chính phân tử đường vẫn được gọi là glycan, nằm ở vị trí 332. Đây là vị trí virus dễ bị tổn thương và mất hoạt tính. Chỉ cần tạo ra kháng thể đánh vào điểm này là có thể thắng được sự phát triển của HIV.



Các nhà khoa học Nam Phi đã tìm ra cách tổng hợp một loại kháng thể có thể tấn công và giết chết HIV

Trao đổi với BS Nguyễn Minh Tuấn, Giám đốc Bệnh viện Chăm sóc và điều trị HIV Hà Nội, ông cũng cho biết trong những năm qua đã có nhiều thông tin đưa ra nói loại thuốc này, thuốc kia có thể tiêu diệt được virus HIV. Tuy nhiên từ nghiên cứu đi đến thực tiễn còn một khoảng cách rất xa và trên thực tế, hiện nay chưa có một loại thuốc nào có thể chữa hoàn toàn được virus HIV.

Còn ông Vũ Đức Việt, Trung tâm Nghiên cứu HIV/AIDS, trường ĐH Y Hà Nội: Đã là nghiên cứu thì phải tính đến chất lượng của nghiên cứu. Độ tin cậy của cuộc nghiên cứu đó đồng thời cần có những bằng chứng vững vàng thì mới biết được kết quả nghiên cứu đó như thế nào. Đôi lúc thông tin trên báo chỉ là những thử nghiệm. Còn lại, để áp dụng thực tế những phát minh mới cần có hội đồng đánh giá, cơ quan chức năng đánh giá cụ thể. Với mỗi một loại thuốc cần có thời gian đánh giá. Người mắc bệnh mong muốn tìm phương thuốc tốt nhất. Nhưng họ cũng cần hiểu đúng, cần cung cấp thông tin chính xác và chính thống mới đảm bảo được khi dùng loại thuốc đó. Mỗi loại thuốc, mỗi phương pháp trong chữa bệnh AIDS vì liên quan đến con người nên cần xét duyệt nghiên cứu hết sức cẩn thận. Đặc biệt, lại sử dụng trên những cơ thể người có sức đề kháng yếu càng phải cẩn trọng hơn.

Hoài nghi về thuốc chữa HIV/AIDS

Theo báo cáo mới nhất của Bộ Y tế, tính đến ngày 30/6/2012, cả nước ghi nhận tổng số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 204.019, tổng số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 58.569, tổng số bệnh nhân nhiễm HIV đã tử vong là 61.856. Đứng đầu trong “top 10” tỉnh, thành phố có số người nhiễm HIV còn sống cao nhất cả nước là TP.Hồ Chí Minh, tiếp đó lần lượt là: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La, Nghệ An, Đồng Nai, Điện Biên, Thanh Hóa và An Giang. Theo Bộ Y tế, tỷ lệ người nhiễm HIV có độ tuổi từ 30 - 39 đang có xu hướng gia tăng, tỷ lệ nữ nhiễm HIV ngày một nhiều hơn so với trước đây và số người lây nhiễm qua đường tình dục không an toàn ngày càng chiếm tỷ lệ nhiều hơn so với các “con đường” khác.

Tuy nhiên, niềm tin các nhà khoa học có thể tìm được một phương pháp chữa bệnh HIV hiệu quả vẫn là mong muốn lớn nhất đối với các bệnh nhân bị HIV. Cách đây vài tháng thôi, làn sóng tìm kiếm thần dược Profital được quảng cáo là chữa được bệnh HIV đã bùng phát. Mọi người đổ xô đi tìm thần dược Profital. Nhưng ngày 9/8/2012, ông Nguyễn Văn Thanh, Cục phó Cục Quản lý dược - Bộ Y tế đã phải lên tiếng và cho biết, hiện nay trên một số phương tiện thông tin đại chúng có đưa thông tin về thuốc Profital do các nhà khoa học Nga sáng chế có khả năng điều trị bệnh HIV/AIDS. Tuy nhiên tại Việt Nam, thuốc mang tên Profital chưa được cấp số đăng ký lưu hành, chưa có hồ sơ đăng ký thuốc nộp tại Cục Quản lý dược và cũng chưa được cấp phép nhập khẩu lưu hành tại Việt Nam. Qua xem xét, thu thập thông tin thì các nội dung quảng cáo về thuốc mang tên Profital nói trên chưa có thông tin chính thức từ Cơ quan quản lý dược của nước sở tại, nên chưa có cơ sở để xác thực hiệu quả chữa bệnh HIV/AIDS của thuốc Profital. Người dân không nên mua, không sử dụng bất kỳ loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuốc chưa được cơ quan chức năng cấp phép.

Trong gần 30 năm qua, con người đã và đang sống dưới bóng ma HIV. Mặc cho 28 năm nghiên cứu, đến nay vẫn chưa có một loại vắc-xin nào bảo vệ hữu hiệu con người trước HIV và trong suốt thời gian đó, đã có khoảng 25 triệu người chết do các bệnh liên quan đến HIV. HIV là loại virus biến hóa nhất hiện nay. Nó biến đổi với tốc độ chóng mặt khiến người bệnh có thể mang trong mình hàng triệu phiên bản khác nhau của HIV chỉ sau 1 tháng lây nhiễm.

Với những thử thách kể trên, không có gì ngạc nhiên khi những nghiên cứu về vắc-xin chống HIV vẫn chưa thu được kết quả đáng kể. Đến nay, chỉ có 3 loại vắc-xin có tiềm năng được tiến hành thử nghiệm lâm sàng, tuy nhiên cũng không mang lại những kết quả khả quan. Vì vậy trong thời gian này, các nhà khoa học vẫn cho rằng có rất nhiều cách để ngăn ngừa lây nhiễm HIV như bao cao su, gel diệt khuẩn và cả những liệu pháp chữa trị trong quá trình phơi nhiễm.

Đã gần 30 năm qua, các nhà nghiên cứu vẫn không ngừng tìm kiếm lời giải cho bài toán AIDS. Tuy nhiên, chúng ta càng biết nhiều về virus HIV cũng như hệ miễn dịch, khả năng tìm ra lời giải cuối cùng cho bài toán khó vẫn còn đó. Có thể nghĩ rằng chừng ấy thời gian là quá dài nhưng không chỉ HIV, hãy nhớ rằng nhiều căn bệnh khác trên thế giới còn mất nhiều thời gian hơn để tìm ra vắc-xin.

Lật lại lịch sử y học, người ta phải mất đến 47 năm để tạo ra vắc-xin phòng bệnh viêm tủy xám (bại liệt ở trẻ em) kể từ khi phát hiện ra siêu vi trùng poliovirus, hay như bệnh sởi, quá trình điều chế vắc-xin cũng mất 42 năm và viêm gan siêu vi B cũng mất đến 16 năm. Đối với HIV, 28 năm không phải là quá nhiều.

Timothy Ray Brown, quốc tịch Mỹ, hiện đang sống tại San Francisco là người đầu tiên trên thế giới được xác định thoát khỏi căn bệnh HIV/AIDS. Timothy Brown được chữa trị bằng một cách rất đặc biệt. Bác sĩ đã quyết định cấy ghép cho anh tế bào gốc của một người miễn nhiễm với HIV. Ba tháng sau khi ghép tủy gốc, các bác sĩ đã không tìm thấy HIV trong cơ thể Brown. Việc được chữa khỏi HIV đã tạo ra cho Brown niềm tin rằng con người hoàn toàn có thể chiến thắng căn bệnh HIV/AIDS.

Theo Huyền Chi (An ninh Thủ đô)



Thứ Hai, 27 tháng 8, 2012


FDA công nhận loại thuốc phòng HIV đầu tiên

Ngày 16/7, FDA đã ra thông cáo chính thức công nhận thuốc Truvada (tên dược chất là emtricitabine/tenofovir disoproxil fumarate) là thuốc giúp giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục.



Bước tiến quan trọng trong phòng chống AIDS

Truvada là thuốc uống hàng ngày, dùng để điều trị cho những trường hợp có nguy cơ phơi nhiễm, nhóm người có nguy cơ cao nhưng vẫn phải kết hợp với hành vi tình dục an toàn.

Trước đây, Truvada đã từng được FDA phê duyệt sử dụng kết hợp với các loại thuốc kháng retrovirus khác trong điều trị nhiễm HIV co người lớn và trẻ em từ 12 tuổi trở lên.

Việc phê chuẩn Truvada như một loại thuốc phòng bệnh giúp cho chiến lược phòng chống HIV thêm toàn diện với các biện pháp: thực hành tình dục an toàn, tư vấn giảm thiểu rủi ro và xét nghiệm HIV thường xuyên.

“Hôm nay, việc phê chuẩn loại thuốc này là một bước tiến quan trọng trong cuộc chiến chống HIV. Bởi mỗi năm, khoảng 50.000 người lớn và thanh thiếu niên có chẩn đoán HIV dù đã có nhiều chiến dịch truyền thông, giáo dục, kiểm tra, chăm sóc và các phương pháp pòng chống cần thiết”, Ủy viên FDA Margaret A. Hamburg, cho biết.

“FDA cũng cảnh báo rằng Truvada chỉ sử dụng cho những cá nhân được xác định là HIV âm tính trước khi uống thuốc ít nhất 3 tháng. Thuốc chống chỉ định cho những cá nhân chưa rõ về khả năng có nhiễm HIV hay không và đã có kết quả HIV dương tính.

Truvada được phê duyệt dựa trên những đánh giá rủi ro và để giảm thiểu rủi ro cho các cá nhân không bị nhiễm bệnh và giảm nguy cơ phát triển của HIV-1 (biến thể của vi-rút HIV có khả năng kháng thuốc điều trị hiện tại).

Các chương trình phòng chống HIV/AIDS sẽ không hạn chế việc phân phối Truvada nhưng sẽ phải cung cấp các thông tin về tầm quan trọng của việc tuân thủ phác đồ dùng thuốc được đề nghị và sự hiểu biết về những rủi do nhiễm HIV trong khi dùng Truvada”, website FDA chỉ rõ.

Sự phê duyệt dựa trên những thử nghiệm chặt chẽ

Đã có 2.499 nam giới và phụ nữ chuyển giới quan hệ tình dục với nam giới có xét nghiệm HIV âm tính có quan hệ tình dục với đối tác có HIV dương tính (biết hoặc không biết) hoặc làm nghề mại dâm nhưng không sử dụng các biện pháp an toàn như bao cao su… tham gia vào nghiên cứu. Kết quả cho thấy Truvada giúp giảm nguy cơ nhiễm HIV tới 42% so với nhóm sử dụng giả dược. Hiệu quả của thuốc liên quan chặt chẽ với sự tuân thủ phác đồ sử dụng thuốc trong quá trình thử nghiệm.

Thử nghiệm trên 4.758 cặp vợ chồng quan hệ tình dục khác giới (trong đó có 1 người nhiễm HIV, 1 người không) sử dụng Truvada và tenofovir so với giả dược trong việc ngăn ngừa lây nhiễm HIV ở nam giới không bị nhiễm bệnh cho thấy Truvada giảm nguy cơ lây nhiễm bởi 75% so với giả dược.

Không có tác dụng phụ mới được xác định trong các thử nghiệm lâm sàng đánh giá Truvada.

Các tác dụng phụ phổ biến nhất được báo cáo khi dùng Truvada bao gồm tiêu chảy, buồn nôn, đau bụng, nhức đầu, và giảm cân. Nguy cơ gây độc cho thận, xương không phô rbieens.

Như một điều kiện phê duyệt nhà sản xuất thuốc Truvada, công ty Gilead Science đã phải thu thập mẫu vi-rút được phân lập từ các nhân nhiễm HIV trong khi dùng Truvada và đánh giá các phân lập cho sự hiện diện của kháng thể. Ngoài ra, công ty còn phải thu thập các dữ liệu cuối cùng đối với phụ nữ mang thai sử dụng Truvada (có ảnh hưởng đến đứa trẻ khi chào đời).

Gilead cũng phải cam kết cung cấp dữ liệu về những cá nhân sử dụng Truvada thông qua các bảng câu hỏi trong quá trình kê đơn để cơ quan chức năng kiểm định tính phù hợp của người được cấp thuốc.

Theo Dân Trí





Vì sao cơ thể con người không thể chống lại virus HIV ?

Lý do cho thấy con người chưa thể chống lại lây nhiễm HIV là do một loại protein đơn do vi-rút tạo ra khiến con người mất đi khả năng phòng vệ.

Nghiên cứu chỉ ra rằng, khi HIV đi vào cơ thể con người, chúng sản xuất một loại protein được gọi tên là vpu trực tiếp chống lại các protein phòng vệ của hệ thống miễn dịch. Thông thường, protein của hệ thống miễn dịch ngăn chặn khả năng lan rộng và sao chép khắp cơ thể. Tuy nhiên, vpu đã vô hiệu hóa cơ chế phòng vệ này khiến vi-rút HIV có thể dễ dàng xâm nhập và phát triển.

Theo các thí nghiệm của các nhà nghiên cứu, khi họ phân tách gen của vi-rút để loại bỏ vpu, các tế bào của hệ thống miễn dịch ở người có thể chống lại vi-rút HIV dễ dàng.

GS Michale Gale, chuyên gia ngành miễn dịch học tại trường ĐH Washington (Mỹ) cho hay “Chúng tôi đã xác định thành công “vú khí lợi hại” mà vi-rút HIV sử dụng để vượt qua sự phòng vệ của hệ thống miễn dịch trên người. Phát hiện này có thể sẽ được sử dụng để tạo ra liệu pháp kháng HIV mới cho các bệnh nhân nhiễm HIV”.

Mặc dù kết quả tìm ra chỉ giải thích được tác động của vi-rút trong thời kỳ đầu tiên của quá trình lây nhiễm nhưng vẫn có tác dụng hỗ trợ các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn cách loại vi-rút nguy hiểm này lại có thể né tránh được hệ miễn dịch của con người.

Theo GS Gale, việc tìm ra loại protein này là rất quan trọng trong việc phát triển các loại thuốc chống lại virut HIV bởi vì loại virut này rất tinh vi trong quá trình thích nghi để kháng lại các loại thuốc hiện hành.

Theo Dân Trí



Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012


Xuất hiện bệnh lạ có triệu chứng giống HIV/AIDS

Căn bệnh tấn công hệ miễn dịch của người bệnh, việc điều trị bằng thuốc kháng sinh ở nhiều trường hợp không có tác dụng.

Theo một nghiên cứu công bố mới đây của các nhà khoa học Mỹ, tại châu Á đang xuất hiện một căn bệnh lạ với các triệu chứng tương tự như “căn bệnh thế kỷ” AIDS dù người bệnh không bị nhiễm virus HIV.


Tiến sĩ Sarah K. Browne (phải) (thuộc Viện Dị ứng và các bệnh truyền nhiễm quốc gia Mỹ) đang trò chuyện với một bệnh nhân mắc căn bệnh lạ giống AIDS ngày 22/8 (Ảnh: AP)

Được tiến hành tại Trung Quốc và Thái Lan, nghiên cứu cho thấy, căn bệnh này tấn công hệ miễn dịch của người bệnh, chủ yếu là những người trưởng thành gốc châu Á, khiến họ không thể chống đỡ các mầm bệnh như những người khỏe mạnh.

Các trường hợp mắc bệnh đầu tiên được phát hiện hồi năm 2004. Hiện tại, đối với các bệnh nhân, việc điều trị bằng thuốc kháng sinh không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng. Vì vậy, các bác sĩ đã thử nhiều biện pháp khác nhau, kể cả dùng một loại thuốc chống ung thư giúp ức chế việc sản sinh các kháng thể.

Các nhà nghiên cứu cũng cho biết thêm, người bệnh trung bình ở độ tuổi 50 song không cùng một gia đình, điều này loại trừ khả năng một gen đơn lẻ là nguyên nhân gây bệnh.

Tuy nhiên do phần lớn các trường hợp nhiễm bệnh tại châu Á nên các nhà khoa học vẫn cho rằng, một yếu tố gen hay môi trường nào đó có thể là nguyên nhân gây bệnh.

Theo Thu Hoài
VOV/AFP



Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012


Phương pháp mới thử HIV

Các nhà khoa học vừa tìm ra một kỹ thuật mới phát hiện virus HIV giai đoạn đầu và theo dõi sự phát triển của AIDS mà không cần phải làm đông lạnh huyết tương. Phương pháp mới này rất thích hợp đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước châu Phi.

Theo Tổ chức chống AIDS của Liên hiệp quốc (UNAIDS) gần 1/3 các ca lây nhiễm HIV và chết vì AIDS trên toàn thế giới xảy ra ở các nước vùng cận Sahara. Một trong những nguyên nhân là dân chúng không có điều kiện kiểm tra HIV và chữa bệnh vì chi phí rất tốn kém.

Nhà khoa học John Crump và nhóm nghiên cứu của ông, thuộc Trường ĐH Duke vừa hoàn thành chuyến khảo sát kéo dài 10 tháng tại những vùng sâu vùng xa của Tanzania. Họ theo dõi các trẻ em mà bố mẹ bị nhiễm HIV, cần kiểm tra virus thường xuyên để xác định mức tiến triển thành AIDS.

Trong đợt khảo sát của mình các nhà nghiên cứu đã tìm ra một phương pháp mới là thử nghiệm trên vết máu khô gọi là phân tích DBS (do viết tắt của chữ Dried Blood Spot), thay vì phải phân tích trên mẫu huyết tương đông lạnh rất khó thực hiện, bởi phải đưa từ nơi nhóm khảo sát đến phòng thí nghiệm trung tâm tại Kilimanro, cách nhau 350km.

Họ đã tìm ra được mối liên quan chặt chẽ giữa kết quả phân tích huyết tương với kết quả phân tích DBS, từ đó có thể so sánh để quy về phương pháp chuẩn. “Công trình này có thể đặt nền móng cho một kỹ thuật mới để thử nghiệm và theo dõi sự tiến triển bệnh cho những bệnh nhân nhiễm HIV trong trương lai” . Đó là nhận định của BS John Bartlett, trợ lý Giám đốc Viện Y tế toàn cầu trực thuộc ĐH Duke.

Nếu khi một đứa trẻ nghi ngờ là đã nhiễm HIV, thì cần thử nghiệm HIV càng sớm càng tốt, vì việc điều trị phải thực hiện lâu dài (có khi suốt đời). Khi không có điều kiện kiểm tra theo kháng thể HIV điển hình, thì cần phải áp dụng các phương pháp khác, kể cả phương pháp DBS.

Kiểm tra virus là phương pháp tốt nhất để theo dõi tiến triển bệnh ở những người nhiễm HIV, đặc biệt để đưa ra phác đồ điều trị cho từng thời kỳ.

Nhưng tại Tanzania muốn kiểm tra virus HIV và các mẫu máu của bệnh nhân ở các địa phương phải chuyển đi rất xa tới những nơi có đầy đủ thiết bị. Huyết tương cần phải giữ lạnh liên tục trong suốt quá trình chuyên chở là một thách thức lớn đối với họ và là điều gần như không thể. Vì vậy kết quả không còn chính xác nữa.
Bartlett đã chỉ ra chi phí thấp của phương pháp này và cho biết: "Xác định bằng vết máu khô có nhiều ưu điểm so với phương pháp huyết tương làm lạnh. Trước khi đưa vào áp dụng trong chương trình chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV, vẫn cần phải tiếp tục đánh giá thêm. Nhưng những nghiên cứu rộng rãi phương pháp DBS cho thấy phương pháp rất có triển vọng”.

Theo Vietnamnet/Sciencedaily





Nguyên tắc sống chung với người có HIV

Khoa học đã chứng minh, quá trình phát triển từ HIV đến AIDS có thể kéo dài đến 15-20 năm, thậm chí là dài hơn tuỳ vào sự duy trì sức khoẻ, tuân thủ các quy tắc dinh dưỡng, sinh hoạt tình dục của bệnh nhân nhiễm HIV.

Nhiều bệnh nhân hiện nay may mắn có người thân chăm sóc, nhưng cũng rất nhiều người biết mình có HIV, song vì quá hoảng sợ mà không chủ động đến các cơ sở y tế, hoặc tìm hiểu kiến thức tự chăm sóc mình.
Luôn tay luôn chân, dù đã mang thai sang tháng thứ 7. Người lạ gặp chị Hải sẽ còn ngạc nhiên hơn, bởi 6 năm qua chị sống cùng HIV. Phải biết vượt qua bi quan, buồn chán, đó là việc đầu tiên chị chiến đấu với HIV để có cuộc sống hôm nay.

Chị Nguyễn Thị Hải, Chủ nhiệm CLB Bồ Câu Thanh Xuân (Hà Nội) chia sẻ: “Lúc đầu rất chán nản, nhưng rồi tôi hiểu rằng phải tự mình đứng dậy để cứu lấy cuộc sống của mình…”

Với quyết tâm đó, với sự yêu thương của người chồng mới đã giúp chị làm được những điều mà nhiều người không nghĩ tới. Cả anh và chị 3 năm qua cùng tham gia Câu lạc bộ Bồ Câu – Câu lạc bộ dành cho những người có HIV ở quận Thanh Xuân (Hà Nội).

Tiếp cận với những đối tượng nguy cơ cao, những người có H, giúp họ biết đến những dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễm phí. Điều chia sẻ của chị với những người có H, ngoài chuyện vượt qua nỗi buồn chán còn là ý thức trong việc tập luyện, vệ sinh, ăn uống để duy trì sức khỏe lâu dài.

Những điều nên tránh:

Không nên hút thuốc lá, bởi nó rất có hại tới phổi và những bộ phận khác trên cơ thể bạn và sẽ làm cho các loại bệnh cơ hội khác dễ dàng tấn công hơn.

Rượu cũng đặc biệt có hại tới sức khoẻ của bạn, đặc biệt là ảnh hưởng tới gan. Bên cạnh đó, rượu có thể làm bạn dễ dàng có những hành vi tình dục mà quên đi các biện pháp phòng tránh an toàn.

Nên tránh những loại thuốc không cần thiết, bởi chúng thường có những tác động phụ và có thể ảnh hưởng tới thức ăn và dinh dưỡng của bạn. Nếu bạn sử dụng thuốc thì hãy đọc kỹ hướng dẫn sử dụng.

Theo VTV




Mớm thức ăn lây nhiễm HIV

Theo một cảnh báo tại hội nghị khoa học ở Boston, Mỹ, thức ăn mà người mẹ nhai trước để mớm cho bé có thể truyền virus HIV.

Các nhà khoa học của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Mỹ (CDC) cho biết, máu chứ không phải nước bọt đã truyền HIV, có thể do người mẹ bị chảy máu răng hoặc miệng. Và thức ăn nhiễm HIV này lại truyền vào đứa trẻ qua các vết rách hoặc viêm trong miệng và đường tiêu hóa.

CDC khẳng định rằng cần nghiên cứu thêm, nhưng khuyến cáo các bậc cha mẹ hay bảo mẫu không nhai mớm thức ăn cho trẻ.

Trong vụ một đứa trẻ gốc châu Phi ở Miami có kết quả dương tính HIV năm 1993, người chăm sóc là bác ruột nhiễm HIV đã truyền cho đứa trẻ qua đường mớm thức ăn.

Trong hai trường hợp khác, một bé gái 8 tháng tuổi và một bé trai 3 tuổi đều nhiễm HIV từ mẹ bị bệnh.

Theo Reuter, Phụ nữ VN




Khám phá quan trọng về virut gây bệnh AIDS

Sau 20 năm nghiên cứu, các nhà khoa học Anh và Mỹ đã giải được bài toán quan trọng về virus gây bệnh AIDS, mở đường cho những hướng điều trị hiệu quả hơn đối với căn bệnh thế kỷ này.

Trong công trình nghiên cứu đăng trên Tạp chí "Tự nhiên" của Anh ra ngày 31.1.2010, các nhà khoa học cho biết, đã phát triển được một dạng tinh thể giúp họ nhìn được cấu trúc của một enzyme gọi là integrase, thường có trong những loại virus như HIV và là mục tiêu điều trị của một số loại thuốc chữa HIV/AIDS mới nhất hiện nay.

Với việc biết được cấu trúc của integrase, các nhà nghiên cứu nay có thể hiểu được toàn bộ cơ chế hoạt động của những loại thuốc ức chế integrase, cách thức cải tiến những loại thuốc này cũng như cách ngăn chặn sự kháng thuốc ngày càng tăng của virus HIV.

Ông Peter Cherepanov thuộc Đại học Imperial của Anh, một trong những tác giả công trình nghiên cứu này cho biết, một số loại thuốc mới điều trị HIV như Isentress của Hãng Merck&Co và Elvitegravir của Hãng Gilead Science, có cơ chế hoạt động là ngăn cản integrase, song các nhà khoa học hiện vẫn chưa biết được chính xác tác dụng cũng như cách cải tiến những loại thuốc này.

Loại tinh thể nói trên được các nhà nghiên cứu phát triển nhờ phiên bản của integrase mượn từ các loại virus khác có cấu trúc tương tự HIV. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành hơn 40.000 cuộc thử nghiệm để có thể cho ra một tinh thể có chất lượng cao đủ cho phép họ nhìn được cấu trúc 3 chiều của integrase. Họ cũng đã thử nghiệm các loại thuốc của Merck và Gilead trên các tinh thể này và lần đầu tiên được chứng kiến hai loại thuốc này cô lại và phong tỏa integrase ra sao.

Theo số liệu của Liên hợp quốc, kể từ khi dịch HIV/AIDS bùng phát đến nay đã có gần 60 triệu người trên thế giới bị nhiễm HIV và 25 triệu người đã tử vong. Hiện nay vẫn chưa có vắcxin phòng ngừa cũng như cách chữa trị dứt điểm căn bệnh này.

Theo baomoi.com





Sẽ có 4 đề án dành cho người nhiễm HIV/AIDS

Ngày 20/8, Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo góp ý vào 4 đề án: "Dự phòng lây nhiễm HIV", "Chăm sóc hỗ trợ toàn diện HIV/AIDS", "Tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS”, "Giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS”.

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, với 4 đề án này, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2020 giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV trong nhóm nghiện chích ma túy, giảm 80% số trường hợp nhiễm mới HIV do lây truyền qua đường tình dục (đến năm 2015 giảm 50%), xóa bỏ tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Về hoạt động chăm sóc, điều trị, sẽ tăng tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS đủ tiêu chuẩn điều trị được điều trị thuốc kháng virus HIV lên 80% vào năm 2015 và 90% năm 2020; giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và 2% năm 2020.

Quỳnh Liên.CHITI
Theo HNM




Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012


Phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con

Theo tin ngày 9 tháng 8 năm 2012, ở Swaziland có khoảng 41% phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV, trong đó có 17.000 trẻ em bị phơi nhiễm với HIV từ mẹ. Chương trình phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con là ưu tiên hàng đầu của chính phủ Swaziland

Lây truyền HIV từ mẹ nhiễm HIV dương tính cho con trong thời kỳ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ được gọi là lây truyền từ mẹ sang con. Trong trường hợp không có bất kỳ can thiệp nào, tỉ lệ lây truyền khoảng 15 - 45%. Với những truờng hợp can thiệp có hiệu quả, tỷ lệ này có thể được giảm xuống dưới 5%. Cộng đồng toàn cầu đã cam kết đẩy nhanh tiến độ công tác phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con (PLTMC) thông qua một sáng kiến với mục tiêu loại bỏ lây nhiễm HIV mới vào năm 2015; cải thiện sự sống còn và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh.

Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã làm việc cùng với các đối tác về thiết lập tiêu chí, chuẩn mực toàn cầu cho công tác phòng chống HIV; chăm sóc và điều trị phụ nữ mang thai; bà mẹ và những đứa con của họ; phát triển các chiến lược dựa trên chứng cứ, xác định đuợc mục tiêu, đường lối cơ sở và các chỉ số toàn cầu nhằm thúc đẩy sự hội nhập của phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh; đồng thời tăng cuờng cải thiện chức năng hệ thống y tế.

Với sự hỗ trợ của WHO và các đối tác khác, hoạt động dựa vào cộng đồng đang được triển khai ở tất cả các vùng của đất nước nhằm nâng cao nhận thức, khả năng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em. Với mỗi nguời đi khám thai đuợc khuyến khích làm xét nghiệm HIV sớm trong thời kỳ mang thai và kiểm tra thai 2 tháng/ lần, phù hợp với huớng dẫn của WHO. Hiện nay có hơn 90% phụ nữ mang thai tại các cơ sở y tế công nhận đuợc tư vấn và xét nghiệm.

Owen Kaluwa, đại diện WHO tại Swaziland cũng phát biểu: “WHO cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ Bộ Y tế để cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơn sinh đặc biệt là chương trình phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.”

Tổ chức Y tế Thế giới



Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012


Tọa đàm về lây truyền HIV qua đường tình dục

Ngày 15/8/2012, Trang tin điện tử Tiếng chuông- Trang tin của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn Ma túy- Mại dâm tổ chức buổi tọa đàm “Lây truyền HIV qua đường tình dục- góc nhìn đa chiều”. Tham dự buổi tọa đàm có Nhà sử học, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội Khuất Thu Hồng; Phó Viện trưởng Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng Nguyễn Thu Giang; Trưởng nhóm “Ước mơ tuổi trẻ” Nguyễn Trường Vũ.

Theo Bộ Y tế, trong quý I năm 2012, số người nhiễm HIV lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất: 45,6%, tăng hơn 2,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong 4 năm trở lại đây, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới tăng nhanh, từ 8% năm 2007 đến năm 2011 tăng lên 24,2%.Tại khu vực Duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn các trường hợp lây nhiễm HIV là do lây truyền qua đường tình dục. Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2011 lên đến 77%.

Lý giải về việc gia tăng lây nhiễm HIV ở trong nhóm tình dục đồng giới, bà Nguyễn Thu Giang cho biết, xét về cấu tạo cơ thể sinh học, quan hệ tình dục đồng giới nam dễ gây tổn thương. Cộng với hiểu biết, phương tiện hỗ trợ ít hơn làm tăng khả năng gây lây lan bệnh tật, trong đó có HIV. Thực tế, xã hội vẫn coi đây là vấn đề của một số ít người nên không quan tâm, chú ý. Thậm chí một số người đồng tính còn bị kỳ thị, xa lánh.

Theo Nhà sử học Dương Trung Quốc, chúng ta cần phải nhìn nhận quan hệ tình dục đồng giới một cách thực tiễn hơn. Trong quan hệ đồng tính, cộng đồng mới chỉ lên án mạnh người bán dâm đồng giới. Phải nhìn một cách biện chứng để tìm cách giải quyết về khía cạnh xã hội hay pháp luật. Chính pháp luật là nền tảng cơ bản nhất của đạo đức và sự tiến bộ của nhân loại. Chúng ta cần luật hóa mối quan hệ của người đồng tính.

Các đại biểu tham dự tọa đàm đều thống nhất: Việt Nam cần tạo môi trường thuận lợi hơn cho những người mại dâm, tạo điều kiện cho người nam quan hệ tình dục đồng giới được tiếp cận sớm với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm thiểu lây truyền các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS. Bên cạnh đó, xã hội cần có cái nhìn bao dung hơn với người đồng tính, người mại dâm.

Tin, ảnh: Trọng Tiến




Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012


Cẩn trọng với thuốc điều trị HIV “trôi nổi”


Không nên mua, không sử dụng bất kỳ loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Sau khi một số báo đưa tin về tác dụng của một loại thuốc mang tên Profital do GS người Nga Serguei Rodionov và các cộng sự của mình sáng chế, được cho là có khả năng điều trị bệnh HIV/AIDS, rất nhiều người dân đã lùng mua loại thuốc này trên thị trường.

Cụ thể, tại TP. HCM, thuốc điều trị HIV/AIDS không nguồn gốc, xuất xứ được bán với giá khoảng 35.000 đồng/viên. Theo nhận định của các chuyên gia y tế và dược phẩm Việt Nam, thực chất thuốc Profital nói trên rất có thể là hàng giả, vì thế người dân nên cần trọng với những mặt hàng “trôi nổi”, không rõ nguồn gốc.

Nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc của việc sử dụng thuốc bừa bãi, Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế vừa có văn bản chính thức thông báo về tình trạng này. Theo đó, hiện thuốc Profital do các nhà khoa học Nga sáng chế vẫn chưa có hồ sơ đăng ký thuốc nộp tại Cục Quản lý Dược và chưa được cấp phép nhập khẩu lưu hành tại Việt Nam.

Qua xem xét, thu thập thông tin các nội dung quảng cáo về thuốc mang tên Profital nói trên, Cục này cũng khẳng định; Vì chưa có thông tin chính thức từ cơ quan quản lý dược của nước sở tại nên chưa có cơ sở để xác thực hiệu quả chữa bệnh HIV/AIDS của thuốc Profital.

Cục Quản lý Dược, Bộ Y tế đang thu thập thông tin chính thức về thuốc Profital để thông báo cho người dân. Do đó người dân không nên mua, không sử dụng bất kỳ loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuốc chưa được cơ quan chức năng cấp phép.

PhungLan.CHITI
Theo Pháp Luật VN


Thứ Bảy, 11 tháng 8, 2012


Chưa có cơ sở để xác thực thuốc Profital chữa được HIV/AIDS


Ngày 9/8, ông Nguyễn Văn Thanh, Cục phó cục Quản lý dược cho biết, hiện nay trên một số phương tiện thông tin đại chúng có đưa thông tin về thuốc Profital do các nhà khoa học Nga sáng chế có khả năng điều trị bệnh HIV/AIDS khiến người dân đổ xô đi tìm mua loại thuốc này.

Tại Việt Nam, thuốc mang tên Profital chưa được cấp số đăng ký lưu hành, chưa có hồ sơ đăng ký thuốc nộp tại cục Quản lý dược và cũng chưa được cấp phép nhập khẩu lưu hành tại Việt Nam.

Ông Thanh cũng cho biết thêm, qua xem xét, thu thập thông tin thì các nội dung quảng cáo về thuốc mang tên Profital nói trên chưa có thông tin chính thức từ Cơ quan quản lý dược của nước sở tại, nên chưa có cơ sở để xác thực hiệu quả chữa bệnh HIV/AIDS của thuốc Profital. Người dân không nên mua, không sử dụng bất kỳ loại thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ và thuốc chưa được cơ quan chức năng cấp phép.


Theo L.Hà
Sài Gòn tiếp thị



Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012


Các bài báo về mô hình HIV/AIDS

Các bài báo về mô hình HIV/AIDS (tiếng Anh) tập trung chủ yếu vào phương thức lây nhiễm và lan truyền virus HIV trên khía cạnh con người, xã hội, văn hóa và chủng tộc.

Nhiều công trình nghiên cứu khá công phu và đồ sộ về quy mô cũng như một số mô hình lan truyền HIV/AIDS rất hữu ích cho các nhà khoa học tự nhiên và xã hội tham khảo.

  1. A decision support system for the care of HIV and AIDS patients in India.pdf
  2. A Dynamic Model of HIV Integrase Inhibition and Drug Resistance.pdf
  3. A fast algorithm for the spread of HIV in a system of prisons.pdf
  4. A mathematical model of the impact of crack-cocaine use on the prevalence of HIV, AIDS among drug users.pdf
  5. A nonlinear HIV, AIDS model with contact tracing.pdf
  6. A novel telecommunications-based approach to HIV modeling and simulation.pdf
  7. A steady-state model for the spread of HIV among drug users.pdf
  8. A stochastic model for internal HIV dynamics.pdf
  9. A stochastic model for the HIV epidemic in homosexual populations involving age and race.pdf
  10. Adaptation to climate change in Southern Africa - factoring in AIDS.pdf
  11. Assessing evidence for behaviour change affecting the course of HIV epidemics - A new mathematical modelling approach and application to data from Zimbabwe.pdf
  12. Assessing the effects of homosexuals and bisexuals on the intrinsic dynamics of HIV, AIDS in heterosexual settings.pdf
  13. Bayesian experimental design for long-term longitudinal HIV dynamic studies.pdf
  14. Complex agent networks explaining the HIV epidemic among homosexual men in Amsterdam.pdf
  15. Conditions for widespread heterosexual spread of HIV in the Russian Federation - implications for research, monitoring and prevention.pdf
  16. Declining HIV prevalence and incidence in perinatal women in Harare, Zimbabwe.pdf
  17. Dhandha, dharma and disease - traditional sex work and HIV, AIDS in rural India.pdf
  18. Differentiating geographic patterns of human immunodeficiency virus (HIV) infection with different risk factors in northern Taiwan - 1997–2008.pdf
  19. Dynamic Characteristic Analysis of HIV Mother to Child Transmission in China.pdf
  20. Effects of public health educational campaigns and the role of sex workers on the spread of HIV, AIDS among heterosexuals.pdf
  21. Epidemiological bridging by injection drug use drives an early HIV epidemic.pdf
  22. Estimating HIV, AIDS incidence - Adjusting case reports for changes in definition.pdf
  23. Exploring the connections between HIV serostatus and individual, household, and community socioeconomic resources - Evidence from two population-based surveys in Kenya.pdf
  24. Geographic influences on sexual and reproductive health service utilization in rural Mozambique.pdf
  25. Geographic mapping of HIV infection among civilian applicants for United States military service.pdf
  26. Global stability for an HIV, AIDS epidemic model with different latent stages and treatment.pdf
  27. Health GIS and HIV, AIDS studies - Perspective and retrospective.pdf
  28. HIV and sexual behavior change - Why not Africa.pdf
  29. HIV prevention risks for Black women in Canada.pdf
  30. HIV, AIDS, human capital, and economic growth prospects for Mozambique.pdf
  31. How many HIV infections are prevented by Vancouver Canada's supervised injection facility.pdf
  32. Investigating the association between HIV, AIDS and recent fertility patterns in Kenya.pdf
  33. It’s not just who you are but where you live - An exploration of community influences on individual HIV status in rural Malawi.pdf
  34. Mapping transactional sex on the Northern Corridor highway in Kenya.pdf
  35. Mathematical modeling of thymopoiesis in HIV infection - real data, virtual data, and data interpretation.pdf
  36. Modeling and the Forecast of HIV Epidemics in the Target Groups in Irkutsk, Russia.pdf
  37. Modeling the effect of screening of unaware infectives on the spread of HIV infection.pdf
  38. Modeling the gender-specific impact of vaginal microbicides on HIV transmission.pdf
  39. Modeling the impact of HIV, AIDS upon food security of diverse rural households in Western Kenya.pdf
  40. Modeling the impact of random screening and contact tracing in reducing the spread of HIV.pdf
  41. Modeling the impact of supra-structural network nodes - The case of anonymous syringe sharing and HIV among people who inject drugs.pdf
  42. Modelling and analysis of the spread of AIDS epidemic with immigration of HIV infectives.pdf
  43. Modelling and control of HIV dynamics.pdf
  44. Modelling effects of public health educational campaigns on HIV, AIDS transmission dynamics.pdf
  45. Modelling emerging HIV epidemics - the role of injecting drug use and sexual transmission in the Russian Federation, China and India.pdf
  46. Modelling HIV in the injecting drug user population and the male homosexual population in a developed country context.pdf
  47. Modelling the HIV epidemic - A state-space approach.pdf
  48. Multi-level resource allocation for HIV prevention - A model for developing countries.pdf
  49. PIN65 The Changing Nature of HIV in the Past 5 Years - Implications for Economic Modeling.pdf
  50. Potential impact of HIV among IDUs on heterosexual transmission in Asian settings - scenarios from the Asian Epidemic Model.pdf
  51. Potential population health outcomes and expenditures of HIV vaccination strategies in the United States.pdf
  52. Poverty, bridging between injecting drug users and the general population, and 'interiorization' may explain the spread of HIV in southern Brazil.pdf
  53. Projecting the impact of HAART on the evolution of HIV’s life history.pdf
  54. Quantitative assessment of the role of male circumcision in HIV epidemiology at the population level.pdf
  55. Space-time confounding adjusted determinants of child HIV, TB mortality for large zero-inflated data in rural South Africa.pdf
  56. Spatial and socio-behavioral patterns of HIV prevalence in the Democratic Republic of Congo.pdf
  57. Stochastic models for the spread of HIV in a mobile heterosexual population.pdf
  58. Study on a HIV,AIDS model with application to Yunnan province, China.pdf
  59. The potential impact of an HIV vaccine with limited protection on HIV incidence in Thailand - A modeling study.pdf
  60. The role of acute and early HIV infection in the spread of HIV and implications for transmission prevention strategies in Lilongwe, Malawi - a modelling study.pdf
  61. The serorevertion and the survival related to HIV infection among children - Statistical modeling applied to retrospective data collection.pdf
  62. The social geography of HIV, AIDS among injection drug users in Brazil.pdf
  63. The who and where of HIV in rural Malawi - Exploring the effects of person and place on individual HIV status.pdf
  64. Towards the creation of a health information system for cancer in KwaZulu-Natal, South Africa.pdf





HIV ở các nước đang phát triển

Dịch tễ học của nhiễm HIV-1 và HIV-2 ở các nước đang phát triển

Hai virút khác nhau HIV típ 1 và 2 (HIV-1/HIV-2) gây nên bệnh AIDS. HIV-1 chiếm phần lớn các trường hợp nhiễm HIV trên toàn cầu, HIV-2 có ở Tây Phi, rất hiếm khi ở các nơi khác. Các trường hợp nhiễm HIV-2 có tính cá nhân đã được mô tả ở một số nơi của Châu Phi, Châu Âu, Châu Mỹ và Châu Á (Ấn Độ), nhưng hầu hết những người nhiễm HIV-2 có mối liên hệ về dịch tễ học với vùng Tây Phi. Các đường lây truyền HIV-1 và HIV-2 thì giống nhau trên toàn thế giới, nhưng hình thái lây truyền thì khá là khác nhau tùy theo từng vùng. Ở hầu hết các nước đang phát triển, lây truyền HIV qua quan hệ tình dục khác giới vẫn chiếm ưu thế, và lây truyền HIV từ mẹ sang con thì nhiều hơn hẳn so với các nước công nghiệp hóa. Lây truyền qua quan hệ đồng tính hiếm khi ở Châu Phi, nhưng khá phổ biến ở các nước Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ. Lây truyền có liên quan đến sử dụng ma túy bằng đường tiêm chích thường ở những vùng Nam và Đông Nam Châu Á; ở một số nước việc bán máu đã khiến gia tăng lây truyền HIV qua truyền máu, cả cho người nhận máu và người cho máu do nhiễm qua kim tiêm không vô trùng. Phụ nữ và trẻ em đặc biệt có nguy cơ cao bị nhiễm HIV do truyền máu, phụ nữ do nguy cơ thiếu máu và xuất huyết liên quan với thai kỳ và lúc sanh, còn trẻ em thì do thiếu máu vì bị sốt rét.

HIV-2 ít bị lây nhiễm hơn so với HIV-1; điều này đặc biệt đúng với lây truyền từ mẹ sang con, chỉ 1% số bà mẹ nhiễm HIV-2 truyền bệnh cho con. Trong khi đó, có đến 42% các trường hợp nhiễm HIV-1 truyền bệnh sang cho trẻ bằng tất cả các đường (trong tử cung, lúc sanh và sữa mẹ). Lây truyền HIV-2 qua quan hệ tình dục cũng ít xảy ra hơn, đặc biệt là trước khi bước sang giai đoạn cuối của bệnh. Lây truyền sau sanh qua sữa mẹ trở nên quan trọng hơn so với suy nghỉ trước đây và xấp xỉ gấp đôi nguy cơ lây truyền từ mẹ sang con.

Lâm sàng nhiễm HIV ở các nước đang phát triển

Ở các nước công nghiệp hóa, bệnh cảnh lâm sàng liên quan HIV khá thay đổi và nhiều dạng, vì số tế bào CD4 giảm, từ một tình trạng không triệu chứng, qua giai đoạn biểu hiện triệu chứng, cho đến tử vong do các bệnh nhiễm trùng cơ hội, u ác tính, bệnh lý thần kinh, và đổ mồ hôi. Nhiễm HIV tiên phát (“nhiễm HIV cấp tính” hay còn gọi “Bệnh chuyển đổi huyết thanh”) có thể trở nên phức tạp do hội chứng giống bệnh đơn nhân nhiễm trùng, hay các biểu hiện khác đa dạng. Tuy nhiên, vì hội chứng này không đặc hiệu nên rất ít khi được nhận ra ngay cả khi biểu hiện lâm sàng rõ nét.

Các biểu hiện nhiễm HIV ở giai đoạn còn sớm

Triệu chứng và các dấu hiệu thông thường là sụt cân, sốt, đổ mồ hôi về đêm và tiêu chảy. Rối loạn da là những biểu hiện sớm thường xảy ra, đặc biệt thủy đậu, nhiễm trùng do nấm và viêm da ngứa, là một phát ban ngứa, ban đầu là những bóng nước sau đó trở thành các vết loét nông do gãi và cuối cùng thì vết loét lành để lại những dát sắc tố.

Lao

Lao là nhiễm trùng cơ hội quan trọng nhất làm tình trạng nhiễm HIV thêm phức tạp ở các nước đang phát triển, và có thể biểu hiện ở bất cứ giai đoạn nào của tình trạng suy giảm miễn dịch. Trong thời kỳ nhiễm HIV còn sớm, lao phổi tương tự với lao ở người không bị nhiễm HIV. Ở giai đoạn suy giảm miễn dịch tiến triển, thì lao thường có tính lan tỏa và nhiều khuẩn. Ở một số nơi, cần chẩn đoán phân biệt với nocardiosis mặc dù bệnh cảnh này rất ít khi xảy ra.

Nhiễm trùng huyết

Một biểu hiện bệnh lý do HIV chưa được phát hiện đầy đủ ở các nước đang phát triển là nhiễm trùng huyết. Các vi trùng Gram âm thường là những tác nhân bệnh lý được định danh nhiều nhất, đăc biệt là các chủng Salmonella không phải thương hàn. Bệnh lý phổi xâm nhiễm cũng thường xảy ra và sớm hơn nhiễm trùng Gram âm. Ở một số bệnh nhân nhiễm HIV đã tiến triển, có thể phát hiện được mycobacterium trong máu; Mycobacterium tuberculosis thường gặp hơn là Mycobacterium avium intracellulare.

Tiêu chảy và hội chứng đổ mồ hôi do HIV

Hình ảnh lâm sàng điển hình nhất được biết là “gầy mòn”, danh từ này được người miền quê của Uganda đặt tên cho hội chứng đổ mồ hôi do nhiễm HIV. Đổ mồ hôi nhiều, tiêu chảy mạn tính và sốt là những triệu chứng điển hình. Khoảng một nửa không tìm thấy tác nhân gây bệnh đặc hiệu; trong số những vi sinh định danh được, tác nhân thường gặp nhất là cryptosporidiosis, microsporidiosis, isosporiasis và các vi trùng khác. Kết quả sinh thiết thường gặp nhất ở bệnh nhân châu phi có hội chứng đổ mồ hôi là lao lan tỏa, và người ta có thể gắng công tìm kiếm tác nhân nguyên phát từ ống tiêu hóa không cần thiết. Cũng như tất cả các tác nhân y học của đổ mồ hôi, một yếu tố quan trọng gây nên đổ mồ hôi là ăn uống kém.

Bệnh lý thần kinh

bệnh lý não do toxoplasmosis và viêm màng não do cryptococcus có thể là các nguyên nhân thường xảy ra ở các nước đang phát triển hơn là các nước công nghiệp hóa và tần suất có thể thay đổi theo từng vùng. Hầu như toxoplasmosis não hiện diện như làmột tổn thương não choán chổ, và cryptococcosis như là một viêm màng não mạn tính.

Mối tương quan với các bệnh nhiệt đới đang lưu hành

Mối tương quan giữa các bệnh nhiệt đới đang lưu hành với nhiễm HIV chỉ được nghiên cứu ở mức độ giới hạn. Về mặt lý thuyết, nhiễm HIV có thể gia tăng các bệnh nhiệt đới, làm thay đổi bệnh sử và biểu hiện lâm sàng cũng như đáp ứng điều trị ở những bệnh này. Sốt rét liên quan gián tiếp đến nhiễm HIV do gây nên thiếu máu ở trẻ em, khiến những trẻ này có nguy cơ cao nhiễm HIV khi được truyền máu. Phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV bị sốt rét nhiều hơn và nặng hơn và gia tăng tần xuất sốt rét qua nhau thai nhiều hơn là phụ nữ không nhiễm HIV. Người nhiễm HIV bị sán Schistosoma mansoni thải trứng ít hơn người không nhiễm HIV nhưng người ta không biết liệu độ nặng của bệnh nhiễm sán này có bị ảnh hưởng bởi tình trang nhiễm HIV hay không, và đáp ứng điều trị dường như không bị ảnh hưởng bởi tình trạng nhiễm HIV. Người ta đã từng nghỉ amib và giun lương có thể nhiều hơn ở bệnh nhân HIV nhưng đã không xảy ra như vậy; trên dữ liệu có giới hạn, dường như trypanosomiasis và bệnh phong cũng tương tự nhau giữa nhiễm và không nhiễm HIV. Có rất ít thông tin về ảnh hưởng của nhiễm HIV đối với bệnh giun chỉ. Bệnh leishmaniasis bàng quang thường lan tỏa, nhiều hơn ở người nhiễm HIV, mặc dù hầu hết các báo cáo từ Nam Âu hơn là cận Sahara Châu Phi hoặc Nam Mỹ. Người nhiễm HIV mắc leishmaniasis cần duy trì điều trị vì nếu không bệnh thường sẽ tái phát.

Định nghĩa ca bệnh AIDS và các giai đoạn nhiễm HIV

Định nghĩa ca AIDS trong giám sát dịch tễ học

Đối với giám sát dịch tễ học, định nghĩa của một ca bệnh nặng liên quan đến HIV cần mang tính thực tiễn. Định nghĩa ca giám sát bệnh AIDS của Trung Tâm Kiểm Soát Bệnh Tật Hoa Kỳ (CDC) được sử dụng ở nhiều nước công nghiệp hóa, nhưng không thể được sử dụng ở hấu hết các nước đang phát triển vì nó đòi hỏi phải có những xét nghiệm cầu kỳ. Vì vậy mà Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO) đưa ra định nghĩa ca bệnh dựa vào lâm sàng sử dụng ở những cơ sở y tế thiếu phương tiện hoặc tiếp cận với các kỹ thuật xét nghiệm. Vào năm 1994, định nghĩa này được mở rộng phối hợp thêm chẩn đoán nhiễm HIV bằng huyết thanh học (vì vậy mà gia tăng độ đặc hiệu) và sửa đổi định nghĩa ca bệnh của CDC.

Nếu như khó tiếp cận hoặc không có xét nghiệm huyết thanh học thì sử dụng định nghĩa ca bệnh dựa trên lâm sàng; nếu có xét nghiệm huyết thanh học thì nên sử dụng định nghĩa ca bệnh mở rộng.

Chẩn đoán và giai đoạn lâm sàng của nhiễm HIV ở những cơ sở y tế thiếu phương tiện

Mặc dù HIV giai đoạn tiến triển có thể dễ dàng chẩn đoán trên lâm sàng, nhưng xét nghiệm huyết thanh học HIV ở bệnh nhân nghi ngờ bị nhiễm vẫn là điều mong muốn, nhất là lao ở bệnh nhân không nhiễm HIV có thể khó phân biệt về mặt lâm sàng với lao ở bệnh nhân nhiễm HIV tiến triển.

Định nghĩa ca bệnh ở các bảng bên dưới được dùng cho giám sát dịch tễ học và không có ý định dùng cho chẩn đoán giai đoạn lâmsàng ở bệnh nhân HIV vì cả độ nhạy cảm và độ đặc hiệu đều thấp. Để ước tính tiên lượng bệnh, một hệ thống giai đoạn lâm sàng thường hữu dụng hơn là định nghĩa ca bệnh. Hệ thống chẩn đoán giai đoạn lâm sàng HIV của WHO đề nghị, sử dụng dữ liệu lâm sàng và la-bô, có khả năng được sử dụng ở các nước đang phát triển. Hệ thống này phân loại bệnh nhân thành 4 giai đoạn dựa trên đặc điểm tiên lượng có ý nghĩa.

Các giai đoạn được phân chia như sau:
  • Giai đoạn 1: Nhiễm trùng không triệu chứng
  • Giai đoạn 2: mới phát (mức độ nhẹ)
  • Giai đoạn 3: tiến triển ở mức trung bình
  • Giai đoạn 4: thời kỳ cuối (bệnh nặng)

Hệ thống phân chia này có thể được tái định nghĩa phối hợp tiêu chuẩn xét nghiệm: đếm số tế bào CD4 là dấu ấn xét nghiệm hữu hiệu nhất để phân giai đoạn tiến triển lâm sàng, nhưng kỹ thuật này hiếm có ở một số nước đang phát triển. Số lượng tế bào lim-phô toàn phần có thể được sử dụng để thay thế mặc dù sự thay thế này không lý tưởng lắm. Biểu hiện bệnh lý nhiễm HIV hiếm khi CD4 trên mức 500 x 106/L; bệnh nặng và tử vong hiếm khi ở bệnh nhân có CD4 trên mức 200 x 106/L. Lao và bệnh lý viêm phổi có thể xảy ra khi mức CD4 còn cao hay thấp đi. Một khi bệnh nhân ở các nước đang phát triển đã tiến đến giai đoạn sau của nhiễm HIV, khi tử vong thường có mức CD4 cao hơn so với bệnh nhân ở các nước công nghiệp hóa vì thiếu tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng cao; tuy nhiên, hầu hết các bệnh nhân tử vong ở giai đoạn suy giảm miễn nhiễm tiến triển.

Xử trí người nhiễm HIV ở các nước đang phát triển

Tiếp cận điều trị phổ biến ở các nước đang phát triển lý tưởng nhất là không nên khác biệt với các nước công nghiệp hóa, nhưng nó bị rào cản bởi thiếu hạ tầng cơ sở và các nguồn lực cho chẩn đoán và điều trị. Cũng như các bệnh khác ở những nước nghèo nguồn lực, người ta quyết định điều trị dựa trên những thông tin rất giới hạn. Bệnh nhân nên được tham vấn về nhiễm HIV và dự phòng lây nhiễm cho người khác.

Trị liệu kháng vi-rút hiện nay chỉ có ở một tiểu số người nhiễm HIV ở các nước đang phát triển. Khi các thuốc kháng vi-rút rẽ hơn thì các thuốc này sẽ được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, việc điều trị rộng rãi các thuốc kháng vi-rút tạo nên một thách thức lớn cho các nước nghèo nguồn lực, bao gồm cả việc xác định người nhiễm HIV trước giai đoạn cuối; theo dõi đáp ứng điều trị; tiếp tục cung cấp thuốc; theo dõi sát đặc biệt với những phác đồ điều trị phức tạp; và xử trí những trường hợp điều trị thất bại. Ưu tiên giảm thiểu tính kháng thuốc bằng cách sử dụng những phác đồ hợp lý và hiệu quả, và tăng cường tiếp tục điều trị và theo dõi sát. Kháng thuốc không tránh khỏi trừ khi sử dụng phác đồ phối hợp 3 thứ thuốc. Một số cộng đồng dân cư sẽ dễ dàng tiếp cận hơn thông qua các cơ sở hạ tầng hiện có, chẳng hạn như hệ thống y tế nghề nghiệp; chương trình lao cũng có thể được xây dựng nếu như nhiều nguồn lực sẵn có.

Định nghĩa giám sát ca bệnh AIDS
Với mục đích giám sát AIDS, một người lớn hay trẻ em (> 12 tuổi) được xem như mắc bệnh AIDS nếu có ít nhất 2 trong những dấu hiệu chính kèm với ít nhất một dấu hiệu phụ bên dưới, và những dấu hiệu này không liên quan đến tình trạng nào khác ngoài nhiễm HIV. 
Dấu hiệu chính
  • Sụt cân > 10% trọng lượng cơ thể
  • Tiêu chảy kéo dài trên 1 tháng
  • Sốt kéo dài trên 1 tháng (sốt liên tục hay từng lúc)
Dấu hiệu phụ
  • Ho kéo dài trên 1 tháng (*)
  • Viêm da ngứa toàn thân
  • Nấm candida hầu họng
  • Nhiễm trùng herpes simplex mạn tính hoặc lan tỏa
  • Hạch to toàn thân
  • Hiện diện hoặc sarcoma Kaposi hoặc viêm màng não do cryptococcosis đủ để chẩn đoán AIDS
(*) Đối với bệnh nhân lao, ho kéo dài trên 1 tháng không được xem là một dấu hiệu phụ.

Định nghĩa giám sát ca bệnh AIDS mở rộng của WHO
Với mục đích giám sát AIDS, một người lớn hay trẻ em (> 12 tuổi) được xem như mắc bệnh AIDS nếu có xét nghiệm HIV dương tính và có ít nhất 1 trong những dấu hiệu hiệu dưới đây:
  • Sụt cân > 10% trọng lượng cơ thể hoặc cachexia kèm với tiêu chảy hoặc sốt hoặc cả hai, từng lúc hoặc liên tục, tối thiểu 1 tháng, không do những nguyên nhân ngoài nhiễm HIV.
  • Viêm màng não do cryptococcosis.
  • Lao phổi hay ngoài phổi.
  • Sarcoma Kaposi.
  • Suy giảm chức năng thần kinh, giảm các hoạt động hàng ngày, không do nguyên nhân ngoài nhiễm HIV (ví dụ chấn thương hay tai biến mạch máu não).
  • Nấm candida thực quản (có thể được chẩn đoán dựa trên sự hiện diện nấm candida kèm với khó nuốt).
  • Viêm phổi tái phát nhiều lần đe dọa mạng sống, có hay không xác định tác nhân gây bệnh.
  • Ung thư cổ tử cung dạng xâm nhiễm.

Những thành phần thiết yếu của chương trình HIV/AIDS
Dự phòng các trường hợp nhiễm mới
  • Giảm lây truyền qua đường tình dục
+ Nâng cao nhận thức và giáo dục về kỹ năng sống, đặc biệt khuyến khích giới thanh niên sử dụng bao cao su
+ Kiểm soát các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STD), cả cho nhóm hành nghề mại dâm
+ Báo cho bạn tình biết
An toàn máu
+ Xét nghiệm máu được truyền cho bệnh nhân
+ Tránh truyền máu không cần thiết
+ Vận động việc hiến máu nhân đạo an toàn
  • Can thiệp giảm lây truyền trong nhóm tiêm chích ma túy (ở những nơi cần thiết)
  • Giảm lây truyền từ mẹ sang con
Liệu pháp kháng vi-rút
- Tránh bú sữa mẹ: cân nhắc đến thức ăn thay thế hay ăn dặm sớm hơn
- Giám sát HIV/AIDS
- Tham vấn và xét nghiệm tự nguyện
- Các bệnh liên quan đến HIV
  • Tiếp cận chăm sóc bệnh liên quan HIV hợp lý, đặc biệt lao
  • Điều trị dự phòng thích hợp
- Các tác động từ xã hội
  • Giảm tối đa tính kỳ thị: tôn trọng tính bảo mật, bảo vệ người bệnh khỏi những phân biệt đối xử
  • Chăm sóc cho trẻ mồ côi có cha mẹ mất vì bệnh AIDS

Nguyễn Vũ Thượng
Theo tài liệu
HIV infection and AIDS in the developing world, BMJ Vo.322, 16 June 2001: 1475-1478




Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012

Ngày 13/7/2012, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012.


PGS.TS. Nguyễn Thanh Long phát biểu tổng kết hội nghị

Ngày 13/7/2012, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012. Tham dự hội nghị có: Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế là thành viên các Tiểu ban; Giám đốc Sở Y tế và Giám đốc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố trong cả nước; lãnh đạo và chuyên viên Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế. PGS.TS. Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế chủ trì và tổng kết hội nghị.

Theo báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, lũy tích đến 31/3/2012, nước ta đã phát hiện 201.134 người nhiễm HIV, số bệnh nhân AIDS còn sống là 57.733 người và 61.579 người đã chết vì AIDS. Trong thời gian qua, công tác phòng chống HIV/AIDS ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng: Giảm tỷ lệ mắc mới, khống chế tỷ lệ mắc dưới 0,3% dân số, giảm tỷ lệ tử vong do AIDS... Tuy nhiên, nguy cơ lây truyền HIV vẫn cao do một nguyên nhân sau:

- Hình thái lây nhiễm HIV đang có sự chuyển dịch từ đường lây chủ yếu do tiêm chích ma túy sang quan hệ tình dục, đặc biệt là tình dục đồng giới nam.
- Các hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV còn yếu, tỷ lệ sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục giảm, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm tăng, tỷ lệ nhiễm mới ở người trưởng thành (đã có kiến thức) tăng...
- Đang có xu hướng kéo hẹp lại các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại địa phương theo hướng y tế hóa tăng và xã hội hóa giảm.
- Có xu hướng thiên lệch về điều trị, giảm nhẹ dự phòng và truyền thông.
- Nguồn kinh phí trong nước tuy có tăng nhưng không đáp ứng nhu cầu, trong khi nguồn kinh phí viện trợ giảm dần.
- Tổ chức phòng chống HIV/AIDS lớn nhanh nhưng năng lực yếu kém...

Để tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS trong thời gian tới, cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:
1- Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Phòng chống HIV/AIDS là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài; đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS là đầu tư cho phát triển, vì con người.
2- Tăng cường củng cố y tế cơ sở để triển khai công tác phòng chống HIV/AIDS có hiệu quả ngay tại cộng đồng.
3- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ y tế dự phòng các tuyến, trong đó có cán bộ chuyên trách phòng chống HIV/AIDS.
4- Trong điều kiện nguồn viện trợ giảm, để đảm bảo tính bền vững của công tác phòng chống HIV/AIDS, cần tăng nguồn đầu tư từ ngân sách trung ương và các địa phương.
5- Triển khai có hiệu quả các hoạt động chuyên môn, như: Đẩy mạnh truyền thông theo hướng xã hội hóa và đa dạng hóa, tăng cường can thiệp giảm tác hại, xây dựng một số mô hình điểm, mở rộng điều trị methadone, dự phòng lây truyền mẹ- con...

Theo t5g.org.vn