Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin hoạt động ngành. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin hoạt động ngành. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012
Sẽ có 4 đề án dành cho người nhiễm HIV/AIDS
Ngày 20/8, Bộ Y tế đã tổ chức hội thảo góp ý vào 4 đề án: "Dự phòng lây nhiễm HIV", "Chăm sóc hỗ trợ toàn diện HIV/AIDS", "Tăng cường năng lực hệ thống phòng, chống HIV/AIDS”, "Giám sát dịch HIV/AIDS, theo dõi và đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS”.
Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long, với 4 đề án này, Bộ Y tế đặt mục tiêu đến năm 2020 giảm 50% số trường hợp nhiễm mới HIV trong nhóm nghiện chích ma túy, giảm 80% số trường hợp nhiễm mới HIV do lây truyền qua đường tình dục (đến năm 2015 giảm 50%), xóa bỏ tình trạng kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS. Về hoạt động chăm sóc, điều trị, sẽ tăng tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS đủ tiêu chuẩn điều trị được điều trị thuốc kháng virus HIV lên 80% vào năm 2015 và 90% năm 2020; giảm tỷ lệ lây truyền HIV từ mẹ sang con xuống dưới 5% vào năm 2015 và 2% năm 2020.
Quỳnh Liên.CHITI
Theo HNM
Thứ Hai, 20 tháng 8, 2012
Phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con
Theo tin ngày 9 tháng 8 năm 2012, ở Swaziland có khoảng 41% phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV, trong đó có 17.000 trẻ em bị phơi nhiễm với HIV từ mẹ. Chương trình phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con là ưu tiên hàng đầu của chính phủ Swaziland
Lây truyền HIV từ mẹ nhiễm HIV dương tính cho con trong thời kỳ mang thai, nuôi con bằng sữa mẹ được gọi là lây truyền từ mẹ sang con. Trong trường hợp không có bất kỳ can thiệp nào, tỉ lệ lây truyền khoảng 15 - 45%. Với những truờng hợp can thiệp có hiệu quả, tỷ lệ này có thể được giảm xuống dưới 5%. Cộng đồng toàn cầu đã cam kết đẩy nhanh tiến độ công tác phòng chống lây truyền HIV từ mẹ sang con (PLTMC) thông qua một sáng kiến với mục tiêu loại bỏ lây nhiễm HIV mới vào năm 2015; cải thiện sự sống còn và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh.
Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã làm việc cùng với các đối tác về thiết lập tiêu chí, chuẩn mực toàn cầu cho công tác phòng chống HIV; chăm sóc và điều trị phụ nữ mang thai; bà mẹ và những đứa con của họ; phát triển các chiến lược dựa trên chứng cứ, xác định đuợc mục tiêu, đường lối cơ sở và các chỉ số toàn cầu nhằm thúc đẩy sự hội nhập của phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơ sinh; đồng thời tăng cuờng cải thiện chức năng hệ thống y tế.
Với sự hỗ trợ của WHO và các đối tác khác, hoạt động dựa vào cộng đồng đang được triển khai ở tất cả các vùng của đất nước nhằm nâng cao nhận thức, khả năng tiếp cận các dịch vụ sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em. Với mỗi nguời đi khám thai đuợc khuyến khích làm xét nghiệm HIV sớm trong thời kỳ mang thai và kiểm tra thai 2 tháng/ lần, phù hợp với huớng dẫn của WHO. Hiện nay có hơn 90% phụ nữ mang thai tại các cơ sở y tế công nhận đuợc tư vấn và xét nghiệm.
Owen Kaluwa, đại diện WHO tại Swaziland cũng phát biểu: “WHO cũng sẽ tiếp tục hỗ trợ Bộ Y tế để cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và trẻ sơn sinh đặc biệt là chương trình phòng chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.”
Tổ chức Y tế Thế giới
Chủ Nhật, 19 tháng 8, 2012
Hội nghị tăng cường công tác phòng chống sốt xuất huyết khu vực phía Nam
Ngày 15/8/2012, tại thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Y tế tổ chức Hội nghị tăng cường công tác phòng, chống sốt xuất huyết (SXH) cho các tỉnh/TP khu vực phía Nam. PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến, Bộ trưởng Bộ Y tế chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có PGS.TS. Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế, đại diện các vụ, cục, viện, bệnh viện, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh, Sở Y tế, Trung tâm Y tế dự phòng và Trung tâm Truyền thông GDSK các tỉnh/TP khu vực phía Nam.
Theo báo cáo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, tính từ đầu năm đến nay, cả nước ghi nhận hơn 39.987 trường hợp mắc SXH tại 52 tỉnh/TP, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm 2011, trong đó 26 trường hợp tử vong. Các tỉnh có trên 3.000 ca mắc là TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, An Giang. Ðáng quan tâm, năm nay dịch SXH tăng mạnh ở các tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Tích lũy số ca mắc SXH ở các tỉnh miền Trung là 3.593 ca (tăng 130%), Tây Nguyên: 339 ca (tăng 73%) và các tỉnh phía Nam: 35.374 ca (tăng 14%). Dự báo, dịch SXH tăng nhanh từ tháng 5 và kéo dài đến khoảng tháng 11. Theo quy luật, đỉnh dịch thường rơi vào thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 hằng năm.
Theo kết quả giám sát của Viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh, trong 7 tháng đầu năm 2012, tại khu vực phía Nam tình hình bệnh SXH diễn biến khá phức tạp. Các chuyên gia dịch tễ nhận định, nguyên nhân của dịch SXH gia tăng trên diện rộng là do bệnh chưa có vắcxin phòng ngừa, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng bùng phát dịch bệnh là do sự chủ quan, lơ là, thiếu ý thức của người dân trong phòng, chống dịch bệnh dù bệnh SXH không quá khó để phòng tránh. Ở nước ta hiện đang lưu hành đồng thời cả bốn típ virút Dengue gây bệnh SXH là: D1 (30%), D2 (26%), D3 (20,3%) và D4 (23,3%), đặc biệt típ D4 đã xuất hiện ở cả khu vực miền Nam và miền Trung.
Trọng tâm hoạt động phòng chống SXH trong 5 tháng cuối năm 2012 là triển khai quyết liệt các biện pháp phòng chống dịch SXH Dengue để giảm số mắc, giảm số tử vong và không để dịch lớn xẩy ra, đặc biệt tập trung các tỉnh có số mắc cao.
Phát biểu chỉ đạo Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến biểu dương nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương luôn quan tâm đến công tác phòng chống dịch bệnh nói chung và SXH nói riêng. Bộ trưởng đề nghị, ngay sau Hội nghị này, Sở Y tế các tỉnh khu vực phía Nam khẩn trương tham mưu cho UBND tỉnh chỉ đạo UBND các cấp tăng cường trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch SXH. Cần triển khai chiến dịch truyền thông mạnh trên các phương tiện như đài truyền hình, đài phát thành, phát tờ rơi... để vận động cộng đồng tham gia mạnh mẽ hơn nữa trong phòng chống SXH. Bên cạnh đó, cần có chế tài xử phạt hành chính đối với các cá nhân, tập thể vi phạm. Các hoạt động khác, bao gồm tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý ổ dịch tại các vùng có nguy cơ cao. tổ chức phun hoá chất diệt muỗi để giảm số ca mắc, tăng cường năng lực cho bệnh viện các tuyến để hạn chế và giảm thiểu tỷ lệ tử vong... cũng được tiến hành đồng thời. Các tỉnh, thành phố cần bố trí đủ kinh phí để triển khai kịp thời công tác phòng, chống SXH một cách hiệu quả nhất.
Tin và ảnh: Công Chiến
Tọa đàm về lây truyền HIV qua đường tình dục
Ngày 15/8/2012, Trang tin điện tử Tiếng chuông- Trang tin của Ủy ban quốc gia phòng chống AIDS và phòng chống tệ nạn Ma túy- Mại dâm tổ chức buổi tọa đàm “Lây truyền HIV qua đường tình dục- góc nhìn đa chiều”. Tham dự buổi tọa đàm có Nhà sử học, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc; Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển xã hội Khuất Thu Hồng; Phó Viện trưởng Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh sáng Nguyễn Thu Giang; Trưởng nhóm “Ước mơ tuổi trẻ” Nguyễn Trường Vũ.
Theo Bộ Y tế, trong quý I năm 2012, số người nhiễm HIV lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao nhất: 45,6%, tăng hơn 2,6% so với cùng kỳ năm 2011. Trong 4 năm trở lại đây, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm tình dục khác giới tăng nhanh, từ 8% năm 2007 đến năm 2011 tăng lên 24,2%.Tại khu vực Duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long, phần lớn các trường hợp lây nhiễm HIV là do lây truyền qua đường tình dục. Tỷ lệ nhiễm HIV qua đường tình dục khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long năm 2011 lên đến 77%.
Lý giải về việc gia tăng lây nhiễm HIV ở trong nhóm tình dục đồng giới, bà Nguyễn Thu Giang cho biết, xét về cấu tạo cơ thể sinh học, quan hệ tình dục đồng giới nam dễ gây tổn thương. Cộng với hiểu biết, phương tiện hỗ trợ ít hơn làm tăng khả năng gây lây lan bệnh tật, trong đó có HIV. Thực tế, xã hội vẫn coi đây là vấn đề của một số ít người nên không quan tâm, chú ý. Thậm chí một số người đồng tính còn bị kỳ thị, xa lánh.
Theo Nhà sử học Dương Trung Quốc, chúng ta cần phải nhìn nhận quan hệ tình dục đồng giới một cách thực tiễn hơn. Trong quan hệ đồng tính, cộng đồng mới chỉ lên án mạnh người bán dâm đồng giới. Phải nhìn một cách biện chứng để tìm cách giải quyết về khía cạnh xã hội hay pháp luật. Chính pháp luật là nền tảng cơ bản nhất của đạo đức và sự tiến bộ của nhân loại. Chúng ta cần luật hóa mối quan hệ của người đồng tính.
Các đại biểu tham dự tọa đàm đều thống nhất: Việt Nam cần tạo môi trường thuận lợi hơn cho những người mại dâm, tạo điều kiện cho người nam quan hệ tình dục đồng giới được tiếp cận sớm với những dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm thiểu lây truyền các bệnh lây qua đường tình dục, HIV/AIDS. Bên cạnh đó, xã hội cần có cái nhìn bao dung hơn với người đồng tính, người mại dâm.
Tin, ảnh: Trọng Tiến
Ứng dụng công nghệ thông tin tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình
Ứng dụng công nghệ thông tin trong lĩnh vực quản lý bệnh viện có ý nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo việc trao đổi thông tin một cách đầy đủ, khoa học, chính xác. Sau 7 năm hoạt động, đến nay mạng máy tính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình đã có một quy mô rộng lớn, quản lý toàn diện tất cả các lĩnh vực hoạt động của Bệnh viện góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ bệnh nhân.
Thay bằng việc phải chuẩn bị nhiều loại văn bản giấy tờ ghi chép bệnh án, diễn biến xử trí bệnh nhân trong đêm trực như trước đây thì bây giờ các bác sỹ trực của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình chỉ cần tổng hợp trên máy tính tại Khoa qua hệ thống mạng LAN đã có đầy đủ thông tin về người bệnh để trình bày tại buổi giao ban hàng ngày. Các tài liệu về bệnh nhân được lưu trữ trong hệ thống mạng, sắp xếp theo mã số bệnh nhân được thể hiện đầy đủ trên máy tính. Các trường hợp khó, diễn biến phức tạp cũng được mô tả trong dữ kiện lưu để đưa ra thảo luận, hội chẩn. Cũng qua hệ thống mạng, nhiều ca mổ được truyền hình trực tiếp giúp lãnh đạo bệnh viện có thể chỉ đạo điều hành từ xa mà không cần trực tiếp đến tận phòng mổ.
Lãnh đạo bệnh viện giám sát hoạt động của Bệnh viện một cách toàn diện, ngay tại bàn làm việc, theo thời gian thực, không cần chờ báo cáo từ cấp dưới. Dữ liệu được lưu dưới dạng số hóa, dễ dàng thống kê, số liệu báo cáo chính xác. Với hệ thống Internet, Ban giám đốc truy cập vào máy chủ kiểm tra số liệu tất cả mọi mặt hoạt động của bệnh viện như nhân sự, tài chính, lâm sàng theo thời gian thực. Đây là bước tiến rõ rệt trong việc ứng dụng thông tin tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.
Trao đổi với chúng tôi, ThS. Lê Hữu Quý - Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh cho biết: Từ khi mạng LAN và các thiết bị được trang bị lắp đặt, cài đặt, Bệnh viện đã áp dụng và khai thác triệt để tại Khoa Khám bệnh, Khoa Dược, các khoa cận lâm sàng, khu nhà điều hành của Bệnh viện. Từ đó giúp cho việc quản lý chặt chẽ hơn, giúp thầy thuốc tìm kiếm các thông tin bệnh nhân để điều trị tốt hơn, tăng cường nghiên cứu khoa học, giúp cho bệnh nhân giảm bớt các thủ tục rườm rà.
Hiện nay, hệ thống mạng LAN của Bệnh viện tương đối hoàn chỉnh bao gồm hệ thống đường dây và các thiết bị đính kèm áp dụng công nghệ cáp quang, đảm bảo bao phủ trên một diện tích rộng trên 12ha, đáp ứng được nhu cầu sử dụng trước mắt và trong tương lai. Bệnh viện có 1 máy chủ và trên 200 máy con. Mạng máy tính được triển khai trên tất cả các lĩnh vực của Bệnh viện như tiếp đón và quản lý khám; quản lý viện phí; quản lý bệnh nhân nội, ngoại trú; quản lý dược và quản lý nhân sự.
Những kết quả tiên lợi mà mạng máy tính mang lại đã khẳng định được ưu thế của việc ứng dụng tin học vào việc quản lý, bao gồm việc quản lý hồ sơ bệnh án được nhanh chóng chính xác, trích lập các báo cáo thống kê cho Bệnh viện cũng như cho Bộ Y tế được dễ dàng và chính xác theo các mốc thời gian hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, quý hay trong một khoảng thời gian nào đó. Chỉ cần sau 10 giây nhân viên đón tiếp đã nhập xong thông tin đón tiếp của một bệnh nhân và chỉ cần 2 giây đã cho ra thông tin đầy đủ và chính xác. Các thông tin này lập tức được chuyển tới các khoa lâm sàng, cận lâm sàng rất tiện lợi cho bệnh nhân cũng như thầy thuốc. Mặt khác, toàn bộ việc thu chi từ nguồn viện phí được thông qua mạng máy tính, tránh được thất thu một cách đáng kể. Thực hiện được chính sách công khai thuốc, chi phí của bệnh nhân trong suốt quá trình nằm viện, đảm bảo tính công bằng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người bệnh. Công tác quản lý Bệnh viện trở nên khoa học, chính xác đầy đủ và kịp thời.
Như vậy, việc ứng dụng tin học vào công tác quản lý tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình trong những năm vừa qua đã đem lại những lợi ích vô cùng thiết thực, góp phần to lớn trong việc nâng cao chất lượng quản lý cũng như công tác khám chữa bệnh. Trong những năm tới, ngoài việc mở rộng phạm vi hoạt động, Bệnh viện sẽ tiếp tục hoàn chỉnh phần mềm, phát triển trang web để đáp ứng cho nhu cầu của công tác chẩn đoán, khám chữa bệnh và đào tạo từ xa.
Một ca mổ được truyền hình trực tiếp từ phòng mổ lên mạng LAN
Thuý Hà
Trung tâm Truyền thông GDSK Ninh Bình
Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012
TTYT Ứng Hòa: Tăng cường Truyền thông phòng chống bệnh tay chân miệng
Nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng về các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho cộng đồng, ngày 10/8 tại Nhà văn hóa thôn Xà Cầu - Quảng Phú Cầu, Trung tâm Y tế huyện Ứng Hòa đã tổ chức buổi truyền thông phòng bệnh tay chân miệng cho người dân của thôn Xà Cầu.
Tại buổi truyền thông các Bác sĩ của trung tâm y tế đã hướng dẫn người dân về nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng, sự lây truyền của bệnh, các biểu hiện của bệnh qua từng giai đoạn, các biến chứng có thể xẩy ra, các biện pháp điều trị của bệnh và cách phòng bệnh tay chân miệng cho các cháu trong độ tuổi dễ mắc bệnh tại gia đình, nhà trường và trong cộng đồng.
Qua buổi truyền thông, người dân thôn Xà Cầu đã nắm được kiến thức về bệnh và các biện pháp phòng chống bệnh tay chân miệng, để bảo vệ sức khoẻ cho các cháu trong gia đình mình và không để bệnh lây lan ra cộng đồng.
TTYT Ứng Hòa
TTYT Ba Vì: Tập huấn cho cán bộ y tế về phòng chống sốt xuất huyết
Ngày 15/8, Trung tâm y tế Dự phòng Hà Nội đã phối hợp với Trung tâm y tế Ba Vì tổ chức lớp tập huấn về giám sát, chẩn đoán, điều trị và phòng chống bệnh sốt xuất huyết cho Trưởng trạm y tế, cán bộ chuyên trách phòng chống dịch của 31 xã, thị trấn trên địa bàn huyện.
Nội dung buổi tập huấn, tập trung vào hướng dẫn học viên cách giám sát dịch sốt xuất huyết; phương pháp chẩn đoán, điều trị bệnh sốt xuất huyết tại cộng đồng, các biện pháp phòng chống sốt xuất huyết; quy trình nhạy cảm để phát hiện các cá thể muỗi đã kháng với hoá chất để lựa chọn hóa chất thích hợp diệt muỗi hiệu quả.
Thông qua tập huấn đã giúp cho mỗi cán bộ y tế cơ sở nắm bắt được những kiến thức cơ bản nhất định về bệnh sốt huyết Dengue, từ đó mỗi người là những tuyên truyền viên tích cực tại cộng đồng về phòng chống bệnh sốt xuất huyết tại địa phương.
Nguyễn Nhàn
TTYT Ba Vì
Thứ Sáu, 10 tháng 8, 2012
Hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
- Sự khác biệt với hệ thống giám sát hiện hành
- Các bước thiết lập hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
- Tổ chức triển khai hoạt động giám sát các bệnh truyền nhiễm
- Kết quả đánh giá hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
- Ứng dụng hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm chủ yếu trong thực tiễn
Giới thiệu
- Các bước thiết lập hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
- Tổ chức triển khai hoạt động giám sát các bệnh truyền nhiễm
- Kết quả đánh giá hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
- Ứng dụng hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm chủ yếu trong thực tiễn
Giới thiệu
Hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm hiện hành đã được thực hiện từ lâu với chức năng báo cáo thường kỳ (hàng tuần, hàng tháng, hàng quý, hàng năm). Một số đặc điểm thuận lợi cho hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm là nước ta có mạng lưới y tế cơ sở rộng khắp hoạt động từ nhiều năm nay, từ tuyến trung ương đến tận phường xã. Ngoài ra còn có một số chương trình giám sát dịch tễ học hoạt động khá tốt như chương trình giám sát bại liệt ở trẻ em; chương trình giám sát bệnh uốn ván trẻ sơ sinh (nằm trong chương trình Tiêm chủng mở rộng); chương trình giám sát HIV/AIDS, chương trình phòng chống sốt xuất huyết...
Tuy nhiên do điều kiện kinh tế xã hội và phương tiện thông tin còn khó khăn, hệ thống GSDTH các bệnh truyền nhiễm hiện hành ở nước ta còn một số hạn chế: (i) Chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào lâm sàng, ít dựa vào chẩn đoán phòng xét nghiệm, nên thông tin về mắc bệnh và tử vong chưa chính xác; (ii) Chế độ báo cáo bệnh dịch từ các các cơ sở y tế nhà nước và đặc biệt là y tế tư nhân chưa được quy định thành văn bản có tính pháp luật nhà nước, nên việc báo cáo còn chưa đầy đủ và chậm; (iii) Chưa đưa tin học vào áp dụng cho mạng lưới thu thập và báo cáo thông tin, nên số liệu còn không thống nhất giữa các tuyến, chưa đầy đủ về mặt dịch tễ học; (iv) Thông tin giám sát chưa được truyền tải kịp thời, chưa được sử dụng hiệu quả cho công tác phòng chống bệnh tật.
Do vậy, trong thời gian 5 năm (1996-2000), Viện Pasteur TPHCM đã nghiên cứu xây dựng một hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm mới trên cơ sở hệ thống hiện hành sẵn có, tăng cường thêm một số mặt như:
- Củng cố và xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách cho giám sát, thống kê, báo cáo số liệu cho các tuyến
- Thực hiện chương trình tập huấn về giám sát, phát hiện và báo cáo các bệnh truyền nhiễm cho tất cả các tuyến
- Chuyển giao kỹ thuật chẩn đoán vi sinh vật cho 10 bệnh truyền nhiễm chủ yếu: Tả, Lỵ amip, Lỵ trực trùng, Thương hàn, Sốt xuất huyết, Viêm gan vi rút, Viêm não vi rút, Viêm màng não, Sởi, Leptospirose.
- Ứng dụng mạng vi tính vào hệ thống báo cáo số liệu giữa huyện, tỉnh và viện.
Sự khác biệt với hệ thống giám sát hiện hành
Dù được xây dựng dựa trên cơ sở hệ thống hiện hành nhưng hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm chủ yếu có những điểm khác cơ bản như sau:
- Có đội ngũ chuyên trách (kiêm nhiệm) về giám sát
- Có tập huấn thường xuyên về lâm sàng, xét nghiệm, dịch tễ
- Có sự phối hợp giữa 3 bộ phận dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm trong triển khai giám sát
- Có ứng dụng tin học trong xử lý số liệu và truyền tải thông tin qua mạng
- Có kiểm tra định kỳ thường xuyên của tuyến trên đối với tuyến dưới
Các bước thiết lập hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
Hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm được xây dựng với sự phối hợp các yếu tố về nhân sự; về kỹ thuật chuyên môn và trang thiết bị; về triển khai thực hiện và kiểm tra đánh giá, cụ thể bao gồm các bước cơ bản như sau (Sơ đồ1):
Bước 1. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách về giám sát ở các tuyến
Bước 2. Tập huấn và chuyển giao kỹ thuật
- Tập huấn về giám sát dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm và tin học cho đội ngũ cán bộ chuyên trách
- Chuyển giao kỹ thuật, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ giám sát dịch tễ, chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm và công tác tin học (nối mạng)
Bước 3. Triển khai hệ thống giám sát từ tuyến viện - tỉnh - huyện - xã, bao gồm
- Phát hiện bệnh qua chẩn đoán lâm sàng và chẩn đoán vi sinh cho một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu
- Xây dựng hệ thống quy chế thống kê, báo cáo, phản hồi
- Truyền tải thông tin qua việc ứng dụng mạng lưới tin học (Pasteur net)
Bước 4. Kiểm tra của tuyến trên đối với công tác giám sát của tuyến dưới
Tổ chức triển khai hoạt động giám sát các bệnh truyền nhiễm
Thông tin giám sát được thu thập từ tất cả các cơ sở y tế của các tuyến xã, huyện, tỉnh và trung ương. Ðối với một số bệnh truyền nhiễm chủ yếu, chẩn đoán được xác định bằng các xét nghiệm vi sinh thực hiện ngay tại các phòng xét nghiệm tuyến huyện và tỉnh. Tất cả cac1 thông tin dịch tễ và xét nghiệm được chuyển về hệ thống y tế dự phòng để tổng hợp, phân tích và báo cáo lên tuyến trên thông qua hệ thống mạng tin học (Sơ đồ 2).
Ðể đảm bảo 3 tính chất của thông tin giám sát gồm chính xác, đầy đủ và kịp thời, công tác giám sát các bệnh truyền nhiễm đòi hỏi:
- Sự phối hợp chặt chẽ cao giữa 3 bộ phận dịch tễ, lâm sàng, xét nghiệm ở tất cả các tuyến xã, huyện, tỉnh và trung ương
- Thu thập đầy đủ thông tin dịch tễ cơ bản của từng ca bệnh
- Tin học hóa tất cả các khâu quản lý dữ liệu, truyền tải thông tin và phản hồi
- Kết quả đánh giá hệ thống giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm chủ yếu:
- Ðược chấp nhận tại 100% trạm y tế xã, phòng khám khu vực, bệnh viện huyện, tỉnh, Ðội YTDP, TTYTDP tỉnh
- Khả năng phát hiện bệnh khá đầy đủ và chính xác. Hệ thống điểm phát hiện bệnh nhiều gấp 2-10 lần hệ thống hiện hành. Số liệu báo cáo dựa vào tiêu chuẩn lâm sàng và có bổ sung một số xét nghiệm cần thiết
- Thông tin được truyền tải kịp thời, phục vụ tích cực công tác phòng chống dịch
- Số liệu bệnh tật thu được mang tính đại diện khá cao
- Mô hình giám sát mang tính đơn giản vì cơ bản dựa trên hệ thống giám sát sẵn có, chỉ tăng cường và củng cố một số mặt
- Mô hình có khả năng duy trì ở các cơ sở đã triển khai và có khả năng nhân rộng sang các địa phương khác nếu được đầu tư một số yêu cầu căn bản gồm tập huấn, chuyển giao kỹ thuật, một số trang bị cơ bản
Ứng dụng hệ thống giám sát các bệnh truyền nhiễm chủ yếu trong thực tiễn
Hệ thống giám sát dịch tễ các bệnh truyền nhiễm này đang được ứng dụng trong nhiều chương trình y tế, nhiều đề tài nghiên cứu và ở nhiều nơi như:
- Trong hoạt động giám sát bệnh sốt xuất huyết dengue của chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống Sốt xuất huyết
- Trong giám sát bệnh truyền nhiễm lây qua đường nước của đề tài nghiên cứu cấp nhà nước KC.10.11 về "Can thiệp bệnh tả, lỵ, thương hàn ở khu vực đồng bằng sông Cửu long"
- Trong giám sát các bệnh truyền nhiễm của dự án MBDS
- Trong hệ thống giám sat 24 bệnh truyền nhiễm của toàn tỉnh Tiền Giang
Sơ đồ 1: Mô hình hoàn thiện hệ thống giám sát dịch tễ các bệnh truyền nhiễm
Sơ đồ 2. Mô hình hệ thống thu thập, báo cáo, phản hồi số liệu giám sát dịch tễ học các bệnh truyền nhiễm
Nguồn: Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh
ICD - Dữ liệu Y tế đáng tin cậy
Lần đầu tiên, các chuyên gia trong lĩnh vực y tế công cộng làm việc cùng với chuyên gia về chuẩn đoán và điều trị bệnh cùng nhau đóng góp vào bảng phân loại bệnh quốc tế gọi tắt là ICD. Phiên bản này đánh dấu cho sự phát triển tiếp theo của ICD trên toàn cầu. Tổ chức y tế thế giới (WHO) đảm bảo cung cấp cho các chuyên gia về y tế và hệ thống thông tin y tế một dữ liệu tham khảo về các bệnh và yêu cầu về điều kiện sức khỏe một cách nhất quán nhất. WHO kêu gọi sự tư vấn của các chuyên gia về y tế và các bên tham gia liên quan về vấn đề sức khỏe toàn cầu. WHO sẽ phát hành phiên bản ICD-11 vào năm 2015 sau khi có sự đóng góp ý kiến của các bên liên quan.
ICD được coi là nền tảng cho dữ liệu y tế đáng tin cậy
ICD là nền tảng cho việc xác định các xu hướng sức khỏe và thống kê y tế trên toàn cầu. ICD được xuất phát từ kiến thức và kinh nghiệm của các chuyên gia y tế, mang tính đại diện từ nghề y và tạo ra cái nhìn sâu sắc từ một sự đa dạng rộng lớn hơn của y học.
TevfikBedirhan Ustun - điều phối viên Cục Thống kê và Thông tin Y tế cho hay: "Trong điều trị bệnh nhân là cách chúng tôi xác định nguyên nhân tử vong của bệnh nhân. Trong nghiên cứu, là làm thế nào chúng ta phân loại các vấn đề sức khỏe dựa trên bằng chứng".
ICD là tiêu chuẩn vàng để xác định và báo cáo dịch bệnh cũng như các điều kiện về y tế. ICD cho phép chúng ta so sánh và chia sẻ thông tin sức khỏe bằng cách sử dụng một ngôn ngữ chung
ICD là công cụ chính được sử dụng bởi các nhà dịch tễ học để nghiên cứu mô hình bệnh tật, các đơn vị kinh doanh bảo hiểm, chương trình quản lý y tế quốc gia, chuyên gia thu thập dữ liệu và các đơn vị thành viên khác nhằm theo dõi tiến trình sức khỏe toàn cầu và nguồn lực y tế được chi trả như thế nào.
Tiến bộ của ICD-11
Sử dụng những tiến bộ trong công nghệ thông tin, sửa đổi ICD này sẽ cho phép người sử dụng thu thập dữ liệu về nguyên nhân chết, những tiến bộ trong khoa học và y học, các bệnh mới nổi, điều kiện y tế. So sánh các thông tin y tế trên toàn cầu một cách dễ dàng hơn và đa dạng hơn trong các dịch vụ y tế công cộng và báo cáo lâm sàng.
Một số các tính năng mới quan trọng của các phiên bản 11 sẽ bao gồm:
- Chương mới về y học cổ truyền, một bộ phận quan trọng của chăm sóc sức khỏe ở nhiều nơi trên thế giới;
- Tích hợp để sử dụng với các hồ sơ y tế điện tử và các ứng dụng;
- Luôn được cập nhật thông qua các tiến trình phát triển nhằm phản ánh các kiến thức mới về y học để phân loại ICD toàn diện hơn;
- Được sử dụng với nhiều ngôn ngữ khác nhau tùy từng thời điểm khác nhau.
Viện Chiến lược và Chính sách Y tế
Những giải pháp thực hiện lộ trình BHYT toàn dân
Hiện nay, Bộ Y tế đang xây dựng Đề án thực hiện lộ trình tiến đến bảo hiểm y tế (BHYT) toàn dân nhằm mở rộng phạm vi bao phủ về tỷ lệ dân số tham gia BHYT, về phạm vi dịch vụ y tế được thụ hưởng và giảm mức chi trực tiếp từ người sử dụng dịch vụ… Đề án đề ra mục tiêu đến năm 2015 có trên 70% dân số tham gia BHYT; đến năm 2020 có trên 80% dân số tham gia BHYT, tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân, góp phần tạo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển.
Sau 3 năm triển khai thực hiện, Luật BHYT đã thực sự đi vào cuộc sống và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, khẳng định tính đúng đắn, tính phù hợp trong lựa chọn chính sách tài chính y tế thông qua BHYT - một trong những chính sách an sinh xã hội, rất nhân đạo, ưu việt của Đảng và Nhà nước ta. Công tác quản lý Nhà nước về BHYT ngày càng được tăng cường, công tác tuyên truyền về BHYT đã đi vào chiều sâu, đổi mới về hình thức và đã huy động được sự tham gia của cả hệ thống chính trị.
Đến 31/12/2011, cả nước có 55,9 triệu người tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ 63,7% dân số, tăng 11 triệu người so với năm 2009 - thời điểm Luật BHYT chưa có hiệu lực. Quyền lợi của người tham gia BHYT được đảm bảo theo đúng quy định và phạm vi dịch vụ ngày càng mở rộng theo sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật trong y tế; Công tác tổ chức khám chữa bệnh và thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT được cải thiện đáng kể về quy trình, thủ tục trong khám chữa bệnh. Việc mở rộng cơ sở khám chữa bệnh BHYT, nhất là việc tổ chức khám chữa bệnh BHYT tại tuyến xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế ngay từ tuyến y tế cơ sở.
Cùng với việc chỉ đạo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, việc triển khai thí điểm các phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo phương thức định suất, theo trường hợp bệnh đã góp phần giúp các bệnh viện chủ động trong điều hành kinh phí, nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan trong việc quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí BHYT. Năm 2011, Quỹ BHYT tiếp tục cân đối thu chi và có kết dư, góp phần tạo ra nguồn tài chính công đáng kể cho công tác khám chữa bệnh BHYT.
Bên cạnh những kết quả bước đầu, quá trình thực hiện Luật BHYT vẫn còn một số khó khăn, thách thức để đạt được mục tiêu BHYT toàn dân, cụ thể:
Việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT còn chậm, tính tuân thủ pháp luật về BHYT chưa cao, ngoài những đối tượng được ngân sách Nhà nước bảo đảm, tỷ lệ tham gia BHYT người lao động trong các doanh nghiệp, hộ cận nghèo, tự nguyện tham gia BHYT còn thấp.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến và vận động thực hiện chính sách BHYT chưa toàn diện, hiệu quả chưa cao, vẫn còn tình trạng trốn đóng, nợ đóng BHYT. Một bộ phận người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn còn thiếu thông tin về những quy định của Luật BHYT.
- Vai trò quản lý Nhà nước của Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố chưa phát huy đầy đủ, các chỉ tiêu phát triển BHYT, kế hoạch thực hiện lộ trình BHYT toàn dân chưa được đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thành phố.
- Sự phối hợp liên ngành trong tổ chức thực hiện Luật BHYT ở một số tỉnh, thành phố chưa chặt chẽ. Chất lượng khám chữa bệnh nhìn chung còn chưa đáp ứng nhu cầu KCB của nhân dân, thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT, quản lý và sử dụng quỹ BHYT còn nhiều bất cập.
Đề án dự kiến trình Chính phủ quý III/2012 với một số nhiệm vụ và giải pháp trước mắt được thực hiện trong giai đoạn 2012 - 2015:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện chính sách BHYT: Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật BHYT trình Quốc hội năm 2013 theo hướng: quy định tham gia bắt buộc theo hộ gia đình; xây dựng gói quyền lợi cơ bản; sửa đổi bổ sung quy định về thanh toán chuyển tuyến… Đồng thời, sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, bảo đảm tính đồng bộ trong thực hiện chính sách BHYT như giá viện phí, tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp y tế công lập, xã hội hóa y tế….
Thứ hai, phải có cam kết chính trị mạnh mẽ và sự tham gia của hệ thống chính trị: xác định rõ vai trò và trách nhiệm các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể trong thực hiện Luật BHYT. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố cần đưa mục tiêu, kế hoạch thực hiện lộ trình BHYT toàn dân vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của điạ phương, thực hiện nghiêm tiêu chí phát triển BHYT trong chương trình phát triển nông thôn mới.
Thứ ba, nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về BHYT và củng cố hệ thống tổ chức thực hiện BHYT thông qua việc nghiên cứu, hoàn thiện mô hình quản lý, tổ chức thực hiện BHYT đảm bảo hiệu lực, hiệu quả và chất lượng phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam. Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng một hệ thống báo cáo thống kê, hoàn chỉnh thống nhất trên toàn quốc, phục vụ quá trình quản lý và xây dựng chính sách.
Thứ tư, đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHYT, đổi mới nội dung với nhiều hình thức để nâng cao nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể và mọi người dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của BHYT cũng như nghĩa vụ của mỗi người dân trong tham gia BHYT. Công tác tuyên truyền sẽ được phân công cụ thể cho các bộ, ngành liên quan đến các nhóm đối tượng.
Thứ năm, nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh BHYT, thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh với việc đầu tư, mở rộng mạng lưới khám chữa bệnh, đặc biệt là y tế cơ sở thông qua thực hiện Đề án giảm tải bệnh viện, xây dựng gói quyền lợi phù hợp, tăng cường thực hiện xã hội hóa y tế, đa dạng các loại hình khám chữa bệnh, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ và đáp ứng sự hài lòng của người bệnh.
Thứ sáu, đổi mới cơ chế tài chính y tế thông qua BHYT, từng bước thực hiện việc chuyển đổi cơ chế cấp ngân sách Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ gắn với lộ trình tăng giá viện phí để thực hiện chuyển hình thức cấp ngân sách của Nhà nước từ cấp cho cơ sở cung ứng dịch vụ sang cấp trực tiếp cho đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức BHYT. Nghiên cứu áp dụng phương pháp thanh toán chi trả phù hợp. Bảo đảm nguồn Ngân sách Nhà nước mua BHYT cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách khác và hỗ trợ mức đóng cho một số đối tượng. Tăng tỷ lệ phân bổ kinh phí hàng năm đối với các địa phương vận động được nhiều người tham gia BHYT.
Thứ bảy, tăng cường công tác thanh, kiểm tra, phân định rõ trách nhiệm và tăng cường công tác thanh, kiểm tra thực hiện chính sách BHYT của cơ quan quản lý Nhà nước các cấp; đặc biệt là vai trò của UBND các tỉnh, thành phố trong việc chỉ đạo các sở, ngành liên quan tổ chức thanh, kiểm tra việc thực hiện chính sách BHYT trên địa bàn tỉnh. Thực hiện nghiêm các biện pháp xử phạt những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật về BHYT theo Nghị định số 92/2011/NĐ-CP.
Ngoài những giải pháp trên, để thực hiện lộ trình BHYT toàn dân hiệu quả, Đề án đã đưa ra giải pháp cụ thể đối với một số nhóm đối tượng, đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, tăng cường hợp tác quốc tế, nghiên cứu đánh giá về tác động của BHYT với tài chính y tế, sự hài lòng của người bệnh BHYT, phân tích chi phí các dịch vụ y tế… phục vụ cho xây dựng chính sách, nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về BHYT và hệ thống tổ chức thực hiện BHYT.
ThS.Tống Thị Song Hương
(Vụ trưởng Vụ Bảo hiểm y tế, Bộ Y tế)
Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012
Ngày 13/7/2012, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012.
PGS.TS. Nguyễn Thanh Long phát biểu tổng kết hội nghị
Ngày 13/7/2012, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị Sơ kết công tác phòng chống HIV/AIDS 6 tháng đầu năm và triển khai công tác 6 tháng cuối năm 2012. Tham dự hội nghị có: Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Y tế là thành viên các Tiểu ban; Giám đốc Sở Y tế và Giám đốc Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS các tỉnh, thành phố trong cả nước; lãnh đạo và chuyên viên Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế. PGS.TS. Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế chủ trì và tổng kết hội nghị.
Theo báo cáo của Cục Phòng chống HIV/AIDS, Bộ Y tế, lũy tích đến 31/3/2012, nước ta đã phát hiện 201.134 người nhiễm HIV, số bệnh nhân AIDS còn sống là 57.733 người và 61.579 người đã chết vì AIDS. Trong thời gian qua, công tác phòng chống HIV/AIDS ở nước ta đã đạt được một số thành tựu quan trọng: Giảm tỷ lệ mắc mới, khống chế tỷ lệ mắc dưới 0,3% dân số, giảm tỷ lệ tử vong do AIDS... Tuy nhiên, nguy cơ lây truyền HIV vẫn cao do một nguyên nhân sau:
- Hình thái lây nhiễm HIV đang có sự chuyển dịch từ đường lây chủ yếu do tiêm chích ma túy sang quan hệ tình dục, đặc biệt là tình dục đồng giới nam.
- Các hành vi an toàn dự phòng lây nhiễm HIV còn yếu, tỷ lệ sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục giảm, tỷ lệ dùng chung bơm kim tiêm tăng, tỷ lệ nhiễm mới ở người trưởng thành (đã có kiến thức) tăng...
- Đang có xu hướng kéo hẹp lại các hoạt động phòng chống HIV/AIDS tại địa phương theo hướng y tế hóa tăng và xã hội hóa giảm.
- Có xu hướng thiên lệch về điều trị, giảm nhẹ dự phòng và truyền thông.
- Nguồn kinh phí trong nước tuy có tăng nhưng không đáp ứng nhu cầu, trong khi nguồn kinh phí viện trợ giảm dần.
- Tổ chức phòng chống HIV/AIDS lớn nhanh nhưng năng lực yếu kém...
Để tăng cường công tác phòng chống HIV/AIDS trong thời gian tới, cần triển khai thực hiện tốt các giải pháp sau:
1- Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước: Phòng chống HIV/AIDS là nhiệm vụ trọng tâm trước mắt và lâu dài; đầu tư cho công tác phòng chống HIV/AIDS là đầu tư cho phát triển, vì con người.
2- Tăng cường củng cố y tế cơ sở để triển khai công tác phòng chống HIV/AIDS có hiệu quả ngay tại cộng đồng.
3- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao năng lực cho đội ngũ y tế dự phòng các tuyến, trong đó có cán bộ chuyên trách phòng chống HIV/AIDS.
4- Trong điều kiện nguồn viện trợ giảm, để đảm bảo tính bền vững của công tác phòng chống HIV/AIDS, cần tăng nguồn đầu tư từ ngân sách trung ương và các địa phương.
5- Triển khai có hiệu quả các hoạt động chuyên môn, như: Đẩy mạnh truyền thông theo hướng xã hội hóa và đa dạng hóa, tăng cường can thiệp giảm tác hại, xây dựng một số mô hình điểm, mở rộng điều trị methadone, dự phòng lây truyền mẹ- con...
Theo t5g.org.vn
Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế gắn với việc điều chỉnh giá dịch vụ
Chiều 8/8/2012, Bộ Y tế đã tổ chức cuộc họp bàn về việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế gắn với việc điều chỉnh giá dịch vụ do Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến chủ trì. Tham dự cuộc họp cóThứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Xuyên, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Minh Thảo, đại diện Bộ Tài chính, Cục Y tế Bộ Giao thông vận tải, Cục Y tế Bộ Công an, các Vụ, Cục thuộc Bộ Y tế, Sở Y tế Hà Nội và vùng lân cận cùng 22 bệnh viện tuyến Trung ương.
Phát biểu tại cuộc họp Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết việc điều chỉnh giá viện phí sẽ giúp các BV có nguồn tài chính bền vững hơn để góp phần tái đầu tư trang thiết bị, phương tiện khám chữa bệnh nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, điều trị để đạt mục đích cuối cùng là phục vụ người bệnh tốt hơn. Bộ trưởng cũng yêu cầu các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh phải thay đổi ngay các khoa khám bệnh đảm bảo thuận lợi cho người đến khám bệnh và chủ động công khai, minh bạch giá dịch vụ y tế mới.
Ban biên tập Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

























